Thành tựu sau những phép thử lớn
Năng lực chống chịu kinh tế được các chuyên gia kinh tế định nghĩa là khả năng giảm thiểu những tổn thương tiềm ẩn, chống chịu trước các cú sốc bất lợi và đối phó với những thách thức lâu dài, nhanh chóng khôi phục các chức năng cốt lõi và điều chỉnh cấu trúc để tận dụng những cơ hội tăng trưởng mới. Năng lực chống chịu kinh tế của một quốc gia được thể hiện bằng khả năng chịu đựng cú sốc trong ngắn hạn mà không gây ra đổ vỡ hệ thống (khả năng hấp thụ); khả năng điều chỉnh cơ cấu và hành vi để ứng phó (khả năng thích nghi) và khả năng tái cấu trúc căn bản để trở nên mạnh hơn (khả năng chuyển hóa).
Kinh tế thế giới những năm qua liên tiếp trải qua nhiều cú sốc lớn. Đại dịch Covid-19 bùng phát làm tê liệt các hoạt động kinh tế trên toàn cầu, buộc nhiều doanh nghiệp phá sản và khiến nhiều nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam đã thể hiện rất tốt cả 3 khả năng chống chịu kinh tế-hấp thụ, thích nghi và chuyển hóa. Nhờ vậy, Việt Nam trở thành một trong số rất ít nền kinh tế đạt được tăng trưởng dương.
 |
| Nếu thị trường vốn phát triển, minh bạch, hiệu quả hơn sẽ giảm tải đáng kể sức ép lên các ngân hàng. Ảnh: HUY HƯNG |
Vết thương do đại dịch Covid-19 chưa kịp liền, kinh tế thế giới tiếp tục hứng chịu nhiều cú sốc khác, từ xung đột quân sự và sự trừng phạt lẫn nhau giữa các bên liên quan cho tới sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ quy mô lớn, kích hoạt hàng loạt biện pháp trả đũa qua lại. Những cú sốc liên tiếp ấy khiến cộng đồng doanh nghiệp thế giới chao đảo, nhiều doanh nghiệp không trụ vững buộc phải phá sản, các nền kinh tế vì thế cũng chao đảo theo. Việt Nam đang nỗ lực vượt qua những phép thử này bằng sự mềm dẻo, nhưng cũng hết sức cứng rắn, quyết liệt trong bảo vệ lợi ích cốt lõi. Điều này được minh chứng rõ nét qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu được xác nhận bởi các tổ chức kinh tế-tài chính uy tín hàng đầu thế giới và khu vực.
Những khoảng trống và điểm yếu cần khắc phục
Tuy nhiên, theo ThS Nguyễn Trần Minh Trí (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), nền kinh tế nước ta cũng đang bộc lộ những khoảng trống, những điểm yếu cần khắc phục để nâng cao hơn nữa năng lực chống chịu trước những cú sốc lớn với tần suất ngày càng dày đặc và cường độ ngày càng lớn. Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu vẫn còn cao trong khi tỷ lệ an toàn vốn lại thấp, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng huy động. Trong khi đó, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn sơ khai và đang bộc lộ những lỗ hổng quản trị đáng lo ngại-năm 2025, Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra sai phạm mang tính hệ thống với 67 tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Về cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng bộc lộ rủi ro sâu sắc hơn, bên cạnh rủi ro cũ chưa được khắc phục triệt để với cơ cấu tăng trưởng phụ thuộc vào vốn và lao động. Năng lực quản trị thương mại, tuân thủ chuẩn mực quốc tế cũng là một điểm yếu kéo dài, dẫn tới những cuộc điều tra từ đối tác và rủi ro bị áp đặt các tầng thuế bổ sung.
Để khắc phục những điểm yếu trên, qua đó tăng cường năng lực chống chịu kinh tế, Việt Nam cần xây dựng cơ chế tích lũy và quản lý dự trữ tài khóa có tính chiến lược và dài hạn hơn, như cơ chế tích lũy ngân sách theo chu kỳ để gia tăng quỹ dự phòng (như mô hình quỹ bình ổn vĩ mô, quỹ dự phòng rủi ro thiên tai, quỹ hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu... mà một số nước đang áp dụng). Nước ta cũng cần tiếp tục hiện đại hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ theo lộ trình có tính toán; xây dựng khuôn khổ giám sát an toàn vĩ mô toàn diện, trong đó có cơ chế phân định rõ trách nhiệm, cơ chế chia sẻ thông tin giữa các cơ quan hữu quan trong việc nhận diện và xử lý rủi ro hệ thống; chủ động đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, giảm thiểu rủi ro tập trung, xây dựng chiến lược quốc gia về an ninh chuỗi cung ứng-nhất là về nguyên liệu, linh kiện chiến lược trong các ngành xuất khẩu trọng điểm; phát triển thị trường vốn theo hướng minh bạch và đa dạng hóa nguồn vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, Việt Nam cần khẩn trương nâng cao năng lực ứng phó với các công cụ phòng vệ thương mại và minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Việc đang phải đối mặt với hàng loạt cuộc điều tra của các nước hòng áp thuế bổ sung lên hàng hóa từ Việt Nam, nước ta cần sớm hoàn thiện khung pháp lý và năng lực thực thi về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát biên giới đối với hàng giả, hàng vi phạm bản quyền, xây dựng hệ thống minh bạch hóa nguồn gốc nguyên liệu và điều kiện lao động trong chuỗi cung ứng xuất khẩu...
Không thể phủ nhận những thành tựu đáng tự hào trong việc nâng cao năng lực chống chịu kinh tế của nước ta trong thời gian qua. Với những phân tích của các chuyên gia kinh tế, nếu nước ta nhận diện đầy đủ những khoảng trống và điểm yếu cần khắc phục trong lĩnh vực này, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ có thêm dư địa để hoàn thành.