Đà tăng trưởng được củng cố

Kinh tế Việt Nam bước vào những tháng cuối năm 2026 với nền tảng tăng trưởng khá vững. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Động lực tăng trưởng được phân bổ tương đối rộng giữa các khu vực.

8 tháng năm 2026, sản xuất công nghiệp tăng 11,9%, riêng chế biến, chế tạo tăng 12,9%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,3%, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,6%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12%; xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3%. Giải ngân đầu tư công đến ngày 3-9 đạt 513,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 50,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

Hoạt động xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa tại Cảng quốc tế Tân Cảng - Cái Mép, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn. Ảnh: CHÂU GIANG 

Các chuyên gia đến từ Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đánh giá cao chất lượng tăng trưởng gần đây, bởi tốc độ tăng trưởng cao được so sánh trên nền cao hơn. Năm 2025, GDP Việt Nam đạt mức tăng 8,02% (bằng mức tăng trưởng năm 2022, nhưng nền so sánh của năm 2022 là năm 2021 đạt mức tăng trưởng rất thấp do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19). Tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam cao nhất khu vực Đông Nam Á.

Theo bản thông cáo của Bain & Company (tập đoàn tư vấn quản lý toàn cầu, trụ sở tại Mỹ), DBS (tập đoàn dịch vụ tài chính và ngân hàng đa quốc gia, trụ sở tại Singapore) và Vriens & Partners (công ty tư vấn chiến lược và quản lý rủi ro chính trị hàng đầu ở Đông Nam Á, trụ sở tại Singapore), 6 nền kinh tế lớn của khu vực Đông Nam Á (gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Singapore và Việt Nam) đạt mức tăng trưởng trung bình 5,1% trong hai năm 2024 và 2025. Tuy nhiên, các tập đoàn này nhận định có sự phân hóa rõ nét khi Việt Nam đạt mức tăng trưởng trung bình 7,5% trong hai năm này, còn Thái Lan chỉ đạt 2,7%.

Vận hành dây chuyền công nghệ dệt vải hiện đại tại Xí nghiệp dệt, Tổng công ty 28, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Ảnh: THANH THẢO 

Từ những kết quả quan trọng mà Việt Nam đã đạt được, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 23-9 đã nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2026 lên 7,8% (tăng so với mức dự báo 7,2% đưa ra trước đó), đồng thời nâng dự báo năm 2027 từ 7% lên 7,6%. 

Trong một dự báo mang tính dài hạn hơn, Bain & Company, DBS và Vriens & Partners dự báo tăng trưởng trung bình của 6 nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2026-2035 sẽ đạt mức 4,8%, trong đó Việt Nam tiếp tục là động lực tăng trưởng dẫn đầu khu vực.

Tại một cuộc hội thảo diễn ra gần đây, các chuyên gia Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới đưa ra kịch bản tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026 khoảng 8,5%, cao hơn đáng kể so với dự báo mới nhất của ADB.

Việt Nam có nhiều động lực tăng trưởng tốt, nhưng còn rủi ro

Sự khác biệt về con số dự báo phản ánh cách nhìn và các giả định khác nhau, nhưng các nguồn đều chỉ ra những động lực tăng trưởng của Việt Nam giống nhau. ADB cho rằng công nghiệp chế biến, chế tạo, tiêu dùng trong nước, FDI và các chính sách hỗ trợ tiếp tục là những động lực quan trọng. Trong khi đó, Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới nhấn mạnh thêm vai trò của đầu tư công trong những tháng cuối năm, khả năng bổ sung vốn cho công nghiệp từ FDI, sự phục hồi của du lịch và vận tải, cũng như tác động của việc cải thiện dòng tiền cho doanh nghiệp.

Công nhân Công ty Cổ phần 28 Hưng Phú (Tổng công ty 28, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật) kiểm tra áo sơ mi nam thành phẩm trước khi bàn giao. Ảnh: THANH THẢO 

Các chuyên gia trong nước cho rằng công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn có khả năng duy trì vai trò đóng góp lớn, trong khi đầu tư công có thể tạo thêm nhu cầu xây dựng trong quý IV. Việc rút ngắn thời gian hoàn thuế, thanh toán đầu tư công và xử lý thủ tục dự án cũng có thể giúp doanh nghiệp nhanh chóng đáp ứng đơn hàng.

Hai cách tiếp cận nêu trên cùng cho thấy dư địa tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026 vẫn đáng kể.

Cần nhấn mạnh rằng, triển vọng tích cực không có nghĩa mọi thứ đều dễ dàng. ADB cảnh báo bất định toàn cầu gia tăng có thể gây sức ép lên xuất khẩu, đầu tư, lạm phát và tỷ giá. Nền kinh tế ngày càng dựa nhiều vào đầu tư và tín dụng cũng có thể làm tăng rủi ro đối với thanh khoản và ổn định tài chính. Trong khi đó, nhu cầu toàn cầu suy yếu sẽ tác động trực tiếp tới một nền kinh tế có độ mở thương mại lớn như Việt Nam.

Hoạt động xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa tại Cảng quốc tế Tân Cảng - Cái Mép, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn. Ảnh: CHÂU GIANG  

Các chuyên gia của Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới lại chỉ ra những rủi ro cụ thể hơn từ bên trong. Sức mua thực có thể tăng chậm hơn sản xuất; chi phí vốn còn cao; nhập khẩu tăng nhanh đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả sử dụng đầu vào. Giá dầu và năng lượng biến động có thể tạo thêm áp lực chi phí, trong khi rủi ro thương mại gia tăng nếu các thị trường xuất khẩu lớn áp dụng thêm biện pháp thuế quan.

Một vấn đề khác là tiến độ đầu tư. Nếu một số dự án trọng điểm chậm thi công, tác động lan tỏa của đầu tư công tới xây dựng, sản xuất vật liệu, vận tải và các ngành dịch vụ liên quan sẽ không đạt như kỳ vọng.

Từ những đánh giá trên, các chuyên gia khuyến nghị Việt Nam phải biến các động lực hiện có thành năng lực tăng trưởng thực chất hơn.

ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục điều hành kinh tế vĩ mô thận trọng, kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định tài chính, đẩy nhanh cải cách cơ cấu và hướng đầu tư vào những lĩnh vực tạo ra cải thiện năng suất.

Các chuyên gia của Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới đề xuất phân loại các dự án đầu tư công theo điều kiện thi công thực tế để tập trung nguồn lực; tiếp tục rút ngắn thời gian hoàn thuế và thanh toán các nghĩa vụ đủ điều kiện; đánh giá khả năng tiếp cận vốn theo từng nhóm doanh nghiệp và mục đích vay. Đồng thời, cần chủ động các kịch bản năng lượng, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn và yêu cầu của từng thị trường, cũng như tăng khả năng chống chịu của các tuyến vận tải, vùng sản xuất trước thiên tai.

Từ góc nhìn của cả các chuyên gia quốc tế và trong nước, Việt Nam đang có cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2026. Dự báo 7,8% của ADB hay kịch bản 8,5% của Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới đều cho thấy rõ niềm tin của các chuyên gia, dựa trên cứ liệu khoa học và dữ liệu thực tế.

Lợi thế của Việt Nam lúc này là đà tăng trưởng đã hình thành; thách thức là phải biến đà tăng ấy thành năng suất, sức chống chịu và hiệu quả đầu tư cao hơn. Đây sẽ là yếu tố quyết định tới khả năng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026, đồng thời tạo nền tảng cho những năm tiếp theo.