Cần cơ chế luồng xanh khi triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ

Phóng viên (PV): Các kiến nghị của Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ được triển khai thế nào, thưa ông?

PGS, TS Tạ Hải Tùng: Các kiến nghị của Đại học Bách khoa Hà Nội đều hướng tới mục tiêu là đưa Nghị quyết 57 nhanh chóng đi vào cuộc sống. Trên cơ sở đó, thứ nhất, cần đầu tư phát triển ngành công nghiệp vật liệu xứng tầm với kỳ vọng, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Đây là một ngành quan trọng, bao gồm vật liệu xây dựng, vật liệu chế tạo thiết bị công nghiệp, vật liệu điện tử, thậm chí là vật liệu may mặc và rất nhiều lĩnh vực khác. Đây đều là những thế mạnh của Đại học Bách khoa Hà Nội. 

PGS, TS Tạ Hải Tùng, Phó giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: THANH BÌNH 

Vì vậy, nếu được đầu tư bài bản thì ngành công nghiệp vật liệu sẽ có những bước phát triển tốt hơn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp không chỉ trong xây dựng dân dụng mà còn các ngành công nghệ cao liên quan đến vật liệu như chế tạo đường ray cho đường sắt cao tốc, thép cho sản xuất ô tô, vật liệu điện tử hay chế tạo UAV trong kinh tế tầm thấp. Đề cập đến phát triển công nghiệp vật liệu vào thời điểm này là rất đúng lúc vì đất nước đang ở ngưỡng cửa công nghiệp hóa.

Thứ hai, cần có cơ chế luồng xanh trong triển khai nhiệm vụ KHCN. Lý do vì lĩnh vực công nghệ thay đổi rất nhanh, nếu làm đúng trình tự thủ tục mua sắm có thể mất 1,5-2 năm, khi đó thiết bị mua về chưa sử dụng có thể đã lạc hậu. Cơ chế luồng xanh không được phép vi phạm pháp luật, nhưng phải rút ngắn thời gian xử lý từng khâu cho phù hợp với đặc thù KHCN, đổi mới sáng tạo, không thể áp dụng tư duy của các dự án theo lĩnh vực truyền thống.

Thứ ba, phải hoàn thiện hành lang pháp lý, đặc biệt là vấn đề định giá tài sản trí tuệ. Đây là lĩnh vực còn tương đối mới ở Việt Nam nên vẫn thiếu chuyên gia hỗ trợ. Tài sản trí tuệ phải được định giá thì mới có thể chuyển giao, góp vốn hay vay vốn ngân hàng được. Đây đang là điểm nghẽn vì nếu định giá không đúng sẽ gây thất thoát, nhưng định giá cao quá lại gây khó khăn trong việc đưa công nghệ vào đời sống. Vì vậy, cần có cơ chế để hoạt động định giá được thực hiện đúng quy trình, quy định, thống nhất, minh bạch.

Đề xuất thứ tư là phát triển các quỹ đổi mới sáng tạo, trong đó có quỹ đầu tư mạo hiểm từ ngân sách nhà nước. Các quỹ này rất quan trọng để Nhà nước chia sẻ rủi ro cùng doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới sáng tạo.

Cuối cùng là phát triển các khu công viên công nghệ cao (Innovation Park). Đây là nơi thực hiện gắn kết mô hình “3 nhà”: Nhà nước-Nhà trường-Doanh nghiệp. Sắp tới, Đại học Bách khoa Hà Nội định hướng phát triển dự án công viên công nghệ cao tại tỉnh Hưng Yên, hướng tới như một thung lũng silicon thu nhỏ để tăng cường hợp tác “3 nhà”, đưa các nghiên cứu trở thành sản phẩm để cung ứng cho thị trường.

PV: Ông có thể nói rõ hơn về mô hình Innovation Park của Đại học Bách khoa Hà Nội?

PGS, TS Tạ Hải Tùng: Mô hình Innovation Park của Đại học Bách khoa Hà Nội là nơi kết nối “3 nhà” để hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ đến phát triển sản phẩm và làm chủ thị trường. 

Mô hình này không chỉ phục vụ mục đích đào tạo mà còn là nơi hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Ví dụ như hình thành các trung tâm nghiên cứu hỗn hợp do nhà khoa học của trường và chuyên gia của doanh nghiệp đồng chủ trì; mở các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp đặt trực tiếp trong khuôn viên đại học. Sinh viên được tham gia thực tập và nghiên cứu ngay trong các dự án thực tế.

Lợi ích dành cho sinh viên là có môi trường đào tạo, thực tập chất lượng. Lợi ích dành cho nhà khoa học là đưa được sản phẩm nghiên cứu trực tiếp đến doanh nghiệp. Còn doanh nghiệp khi hợp tác với nhà trường thì khai thác được chất xám. Khi hệ sinh thái này phát triển, chúng ta sẽ có những công nghệ do Việt Nam làm chủ và xuất khẩu.

Tăng cường gắn kết “3 nhà”

PV: “3 nhà” cần phối hợp thế nào để phát huy hiệu quả thực tế?

PGS, TS Tạ Hải Tùng: Thời gian qua, việc hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp ở Việt Nam còn hạn chế vì đa số các doanh nghiệp hiện nay có quy mô vừa và nhỏ (SME), nguồn lực còn khiêm tốn. Hiện nay, các doanh nghiệp đang chuyển hướng sang làm chủ công nghệ. Tuy nhiên, để xây dựng một trung tâm nghiên cứu riêng với đội ngũ nghiên cứu cần chi phí rất lớn, đây có thể là rào cản với nhiều doanh nghiệp. 

Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội học tập, nghiên cứu tại trường. Ảnh: CHUNG HOÀNG 

Trong khi đó, các trường đại học đã có sẵn đội ngũ nghiên cứu. Doanh nghiệp chỉ cần đặt bài toán và ký hợp đồng nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ. Chi phí sẽ thấp hơn mà vẫn tiếp cận được công nghệ mới. Ngược lại, những áp lực từ trí tuệ nhân tạo cũng khiến mô hình đào tạo tại các nhà trường thay đổi. Nhà trường cần doanh nghiệp tham gia đào tạo qua các dự án, cung cấp trải nghiệm thực tế cho sinh viên, từ đó phát huy năng lực và sức sáng tạo của sinh viên. Trong khi đó, Nhà nước sẽ đóng vai trò cung cấp vốn mồi để gắn kết hai bên lại, từ đó xây dựng hệ sinh thái bền vững.

PV: Đâu là điểm nghẽn cần tháo gỡ ngay để phát triển KHCN, thưa ông?

PGS, TS Tạ Hải Tùng: Nút thắt cần tháo gỡ trước tiên chính là các điểm nghẽn trong tổ chức thực thi. Công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế trong thời gian qua đã đạt những kết quả tích cực. Tuy nhiên, để đưa thể chế vào đời sống, đặc biệt đối với lĩnh vực mới như KHCN thì cần có tinh thần đột phá, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!