Cơ hội lớn cho sinh viên
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 1981/QĐ-TTg phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân mới một cách phù hợp, khoa học, bảo đảm tính khả thi, liên thông và phân luồng, tạo cơ hội được học tập suốt đời của người dân. Trong đó, thay đổi đáng chú ý trong khung cơ cấu này là việc phân loại đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng, thạc sĩ, tiến sĩ. So với trước kia, thời gian đào tạo bậc đại học đã rút ngắn từ 4-6 năm xuống còn 3-5 năm. Thời gian đào tạo ở cao đẳng có thể kết thúc sau 2 năm thay vì 3 năm như trước đây. Bậc cao học đào tạo 2 năm, nay dù là thạc sĩ định hướng nghiên cứu hay định hướng ứng dụng đều quy định linh hoạt từ 1-2 năm. Riêng bậc tiến sĩ, trước kia nếu xong cao học, người học chỉ cần học 2 năm tập trung, nhưng nay tăng thành 3 năm. Với người có trình độ đại học thì thời gian đào tạo tiến sĩ vẫn là 4 năm.
Việc rút ngắn thời gian đào tạo đại học cho phép sinh viên chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch học tập. Trong ảnh: Giờ tự học của sinh viên Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: Minh Anh.
Như vậy, thời gian đào tạo kể từ khi sinh viên tốt nghiệp THPT là 3 năm đối với hệ đại học và 5 năm đối với hệ thạc sĩ và 8 năm đối với tiến sĩ. Quy định được áp dụng ngay trong năm học này mở ra nhiều cơ hội cho sinh viên. Thay vì lấy số năm học làm khung đào tạo chuẩn như trước, số tín chỉ sẽ được chọn làm căn cứ. Việc tổ chức học tập theo tín chỉ cũng cho phép sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập của mình một cách linh hoạt hơn. Mặc dù giảm thời gian học nhưng khối lượng kiến thức và chuẩn đầu ra của các trường vẫn không hề thay đổi. Theo TS Đặng Đức Đạm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục Nghề nghiệp, nguyên Phó trưởng Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, việc rút ngắn thời gian đào tạo cao đẳng, đại học là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với xu hướng hội nhập giáo dục quốc tế.
Hiện nay, hầu hết các nước trong Liên minh châu Âu đã áp dụng đào tạo hệ đại học trong 3 năm. TS Đặng Đức Đạm dẫn chứng như ở CHLB Đức, thời gian đào tạo một cử nhân ở trường đại học thường là 6 học kỳ, tương đương với 3 năm học; chỉ có các trường đại học định hướng nghiên cứu thì mới cần đến 8 học kỳ, tức là 4 năm học. Theo TS Đặng Đức Đạm, khung đào tạo 3 năm ở đây theo thông lệ quốc tế là tối thiểu. Như vậy với một số ngành nghề hoặc những trường đào tạo theo hướng nghề nghiệp hoàn toàn có thể áp dụng mô hình này. Đây là sự chuyển biến rất lớn của ngành giáo dục nước nhà, góp phần tạo nhiều cơ hội cho sinh viên, giúp các em sớm tiếp cận với cơ hội việc làm trong bối cảnh thị trường việc làm ngày càng khó khăn như hiện nay.
Cần tính đến các ngành đặc thù
Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có rất nhiều đổi mới trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Thực tế ở nước ta, trong một vài năm qua đã có một số trường áp dụng việc đào tạo theo tín chỉ và đã có sinh viên có được bằng đại học sớm sau 3,5 năm như Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội)… Là một trong những sinh viên đăng ký đào tạo theo tín chỉ của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, em Lưu Thảo Trang, sinh viên Khoa Thông tin học cho biết: "Em sắp được cầm trên tay tấm bằng cử nhân sau 3 năm rưỡi học đại học. Theo em, việc học theo tín chỉ vừa tiết kiệm thời gian, vừa tiết kiệm chi phí sinh hoạt, ăn ở cho sinh viên".
Như vậy, việc rút ngắn thời gian đào tạo đại học, cao đẳng không phải chuyện không làm được mà đã được thực tế kiểm chứng và nhận được sự hưởng ứng của nhiều sinh viên. Tuy nhiên, không ít sinh viên cũng bày tỏ, để có thể ra trường sớm nửa năm so với thời gian đào tạo, các em phải rất vất vả học đủ 120-130 tín chỉ như chương trình học đề ra. Nhìn nhận về vấn đề này, PGS, TS Ngô Văn Giá, Trưởng khoa Viết văn-Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng, việc rút ngắn thời gian đào tạo đại học hợp lý với điều kiện chương trình đào tạo giảm bớt một số môn đại cương, cơ sở ngành, tăng cường thêm các môn chuyên ngành. Theo ông, những môn chuyên ngành mới là những kiến thức “sát sườn” để làm hành trang cho các em ra trường làm nghề tốt hơn. Đồng quan điểm với PGS, TS Ngô Văn Giá, TS Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội coi việc thay đổi này là một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học. Tuy nhiên, để triển khai được cơ cấu này, theo ông, trong 3 năm học phải cấu trúc lại khối kiến thức của ngành, thậm chí các nhóm ngành phải gom lại gần nhau sao cho hợp lý hơn so với thời gian trước đây học 4 năm.
Bày tỏ sự đồng tình với Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới, song GS, TSKH Đào Trọng Thi, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội khóa XIII, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, nêu quan điểm: Không nên áp dụng máy móc mà phải cân nhắc những trường, đơn vị nào có thể áp dụng. Với một số ngành đào tạo nếu biết sắp xếp thì chỉ cần 3 năm đào tạo là đủ và phù hợp xu thế quốc tế. Nhưng với các trường đào tạo đặc thù như kỹ sư, bác sĩ, trước đây đào tạo từ 5-6 năm thì phải cân nhắc kỹ. Đối với ngành y nên đào tạo 6 năm và 6 năm đó không quy tương đương trình độ đào tạo cử nhân mà nên tách ra từng phần cơ bản đối với các ngành đào tạo đặc thù, có thể gọi là phần đào tạo bổ sung sau đại học hoặc chuyên khoa. Bởi theo nhìn nhận của GS, TSKH Đào Trọng Thi, sẽ không công bằng nếu như xếp ngang bằng giữa những sinh viên đào tạo 6 năm và đào tạo 3 năm.
Bên cạnh đó, GS, TSKH Đào Trọng Thi cho rằng, muốn rút ngắn thời gian đào tạo thì cần kết cấu lại chương trình đào tạo, lược bỏ hoàn toàn một số môn không cần thiết hoặc lược bỏ nội dung của từng môn học; đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc trung học phổ thông. Ngay từ bậc trung học phổ thông cần định hướng cho các em tiếp tục học đại học hay là học nghề. “Cách tổ chức đào tạo ra sao? Quy chế, chương trình học như thế nào? Đây là vấn đề rất lớn khiến chúng ta phải suy nghĩ và tiến hành theo một kế hoạch cụ thể và thấu đáo trong thời gian tới”, GS, TSKH Đào Trọng Thi nhấn mạnh.
NGUYỄN HOÀI