Từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Một trong số nhiệm vụ trọng tâm tháng 4-2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) là nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung được quy định tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về công nghệ chiến lược, Bộ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát và hoàn thiện Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, trình Thủ tướng Chính phủ; tham mưu thành lập Tổ Công tác điều phối liên ngành để thực hiện nhiệm vụ về công nghệ chiến lược. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng chủ trì, phối hợp với bộ, ngành liên quan rà soát, hoàn thiện cơ chế tài chính, kinh phí cho phát triển công nghệ chiến lược, trọng tâm là các cơ chế đặc thù gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ lãi suất, đồng tài trợ công - tư, cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng mua sắm, dự kiến hoàn thành trong tháng 5/2026. 

Theo ông Hoàng Anh Tú, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ KH&CN: Về kế hoạch điều chỉnh, bổ sung danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Việc này nhằm đáp ứng yêu cầu mới từ Trung ương, đặc biệt là mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bứt phá.

Tháng 6-2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1131 về Danh mục các nhóm công nghệ và sản phẩm chiến lược, bao trùm các xu hướng công nghệ mới nổi. Tuy nhiên, bối cảnh hiện tại đòi hỏi sự tinh chỉnh sâu hơn.

Theo ông Hoàng Anh Tú: “Làm công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược cần nghiên cứu lâu dài”. Bộ KH&CN được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế cùng khối Quốc phòng - An ninh nhằm đưa ra cách tiếp cận mới, xác định những sản phẩm thực sự mang lại tác động đến kinh tế.

Để tìm ra đúng sản phẩm công nghệ mà Việt Nam cần và có khả năng làm được, Bộ KH&CN đề xuất quy trình 4 bước. Đầu tiên là chọn ra các bài toán lớn. Sau đó là xác định các chỉ tiêu tác động, rồi đến các khâu giá trị tạo tác động lớn nhất và từ đó bóc tách ra sản phẩm công nghệ chiến lược và công nghệ chiến lược, đối chiếu với các tiêu chí trong Luật Công nghệ cao năm 2025.

Khi giải quyết được sẽ mang lại tác động rõ ràng, đo lường được đối với sự tăng trưởng. Kế tiếp là phân tích “khâu giá trị”, đóng vai trò như một mắt xích của chuỗi giá trị tổng thể. Quá trình này sẽ được soi chiếu trực tiếp vào các lĩnh vực có tỷ trọng đóng góp GDP cao như nông lâm thủy sản, gỗ, da giày hay dệt may.

Doanh nghiệp Việt Nam cần xác định sẽ tham gia vào khâu nào, khâu nào có thể tự làm được và khâu nào quốc tế vẫn đang nắm giữ để cần thời gian "nghiên cứu, giải mã và làm dần".

Các kỹ sư của Trung tâm Vũ Trụ Việt Nam tham gia chế tạo vệ tinh - Ảnh: Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 

Thứ trưởng Thường trực Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho biết, Bộ đã xây dựng các chương trình công nghệ chiến lược theo hướng chuẩn hóa từng công nghệ, sản phẩm chiến lược thành các trụ cột nền tảng gồm công nghệ lõi, hạ tầng, nhân lực. Cùng với đó, mỗi trụ cột được chuyển thành các nhiệm vụ được chuẩn hóa, bao gồm bối cảnh và mục tiêu; phạm vi và phương pháp tiếp cận, tổ chức thực hiện; sản phẩm, thời gian và tiến độ; ngân sách và nguồn lực, tiêu chí đánh giá kết quả.

Ngoài ra, từ nhiệm vụ sẽ hình thành các dự án đề tài để mời gọi doanh nghiệp, viện, trường, bộ, ngành, địa phương tham gia thực hiện. Cuối cùng, dựa trên việc thực hiện công nghệ, sản phẩm chiến lược, Bộ KH&CN sẽ từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Năm 2026, Bộ KH&CN tập trung đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược gắn trực tiếp với nhu cầu sử dụng thực tế của cơ quan nhà nước, địa phương và thị trường. Đồng thời, Bộ thúc đẩy hình thành hệ sinh thái hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, bảo đảm sự tham gia xuyên suốt của các chủ thể từ nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa sản phẩm.

Cách tiếp cận này được xem là giải pháp quan trọng nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, bảo đảm các sản phẩm công nghệ chiến lược không chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm mà sớm được ứng dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội.

Các doanh nghiệp viễn thông phát huy thế mạnh sẵn có

Triển khai Nghị quyết 57, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam dựa trên năng lực đã thương mại hóa 5G với những mục tiêu khác nhau vừa phát huy thế mạnh sẵn có, vừa bảo đảm tính cạnh tranh. 

Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) là nhà mạng đầu tiên công bố thương mại hóa mạng 5G với mục tiêu đưa sóng đến mọi người dân và phát triển hạ tầng, dịch vụ 5G rộng khắp tới 100% tỉnh, thành phố, các khu công nghiệp, trung tâm nghiên cứu, nhà ga, cảng biển, sân bay…

Hệ sinh thái 5G của Viettel. Ảnh: Viettel 

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) chính thức cung cấp dịch vụ 5G siêu tốc độ, siêu trải nghiệm, chú trọng các khu vực trọng điểm về kinh tế - xã hội, cung cấp dịch vụ không kèm điều kiện đăng ký gói cước mới.

Tổng công ty Viễn thông MobiFone (MobiFone) là nhà mạng thứ 3 tại Việt Nam tuyên bố chính thức thương mại hóa mạng 5G, tập trung tại trung tâm các tỉnh, thành phố lớn.

Từ thành công với mạng 5G, các doanh nghiệp Việt Nam tự tin bước vào chinh phục mạng 6G. Công nghệ 6G - thế hệ mạng di động tiếp theo sau 5G, hứa hẹn mang lại tốc độ truyền dữ liệu vượt trội, độ trễ cực thấp, tích hợp AI và khả năng kết nối vệ tinh. Công nghệ này sẽ phục vụ hiệu quả các ứng dụng như Internet vạn vật, trung tâm dữ liệu, giao tiếp tầm xa và các dịch vụ số thế hệ mới.

Trong khuôn khổ Hội nghị Di động thế giới 2026 (MWC) diễn ra tại Barcelona, Tây Ban Nha, ba doanh nghiệp là FPT, Viettel, VNG đã tham gia Liên minh toàn cầu về phát triển công nghệ mạng 6G do Qualcomm khởi xướng. 

Liên minh toàn cầu về phát triển công nghệ mạng 6G quy tụ hàng chục tập đoàn công nghệ và viễn thông hàng đầu thế giới, như Google, Meta, Microsoft, Samsung, Nokia, LG, T-Mobile... nhằm xây dựng lộ trình phát triển theo các cột mốc cụ thể, hướng tới thương mại hóa mạng 6G vào năm 2029. 

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị FPT cho rằng, tham gia Liên minh giúp FPT nâng cao năng lực chuyển hóa các công nghệ tiên tiến thành giá trị thực tiễn cho khách hàng trong nhiều ngành, khu vực và thị trường; đồng thời tăng cường năng lực trong các lĩnh vực chiến lược như giao thông thông minh, hệ thống thiết bị bay không người lái tự hành, sản xuất thông minh và kỹ thuật số tiên tiến, hướng tới việc tạo ra giá trị bền vững cho một thế giới an toàn, thông minh và giàu khả năng thích ứng.

Viettel và Qualcomm đã xây dựng nền tảng hợp tác vững chắc thông qua việc triển khai thành công cơ sở hạ tầng 5G Open RAN trên quy mô lớn. Tham gia Liên minh, hai bên mở rộng hợp tác hướng tới nghiên cứu và phát triển 6G, cùng chia sẻ tầm nhìn dài hạn về kết nối thông minh, tự động và tích hợp trí tuệ nhân tạo. Qua đó thúc đẩy các công nghệ 6G nền tảng, từ kiến trúc mạng thế hệ tiếp theo đến hệ sinh thái thiết bị thông minh. Viettel xác định “thương mại hóa 6G” không chỉ là cung cấp dịch vụ viễn thông 6G trong tương lai mà là kinh doanh các sản phẩm công nghệ 6G do Viettel nghiên cứu, phát triển và sản xuất, bao gồm thiết bị mạng, nền tảng phần mềm và hệ sinh thái thiết bị thông minh tích hợp AI. 

Tham gia liên minh 6G toàn cầu thể hiện cam kết của Viettel trong việc làm chủ công nghệ lõi và đóng góp vào hệ sinh thái 6G từ giai đoạn đầu, cùng các đối tác thúc đẩy đổi mới sáng tạo; đồng thời từng bước đưa các sản phẩm công nghệ do Việt Nam nghiên cứu, phát triển tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Liên minh phát triển 6G toàn cầu không chỉ là một bước tiến công nghệ mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam khẳng định vị thế của mình trên bản đồ công nghệ thế giới.