Đó là nội dung thu hút sự quan tâm trong cuộc làm việc vừa qua của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội với các bộ ngành liên quan. Tuy nhiên, đây không phải là chuyện mới. Năm 2018, sau kiến nghị của Hội cựu giáo chức, Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu đề xuất chính sách dành cho đối tượng này. Thế nhưng, sau 8 năm, văn bản của Bộ trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến Ủy ban Dân nguyện và Giám sát vẫn là: “Bộ đã tổ chức khảo sát chế độ, chính sách với đội ngũ giáo viên mầm non nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ tại một số địa phương làm căn cứ để tham mưu Chính phủ quy định chế độ, chính sách với đội ngũ giáo viên mầm non nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ trong thời gian tới”.
Nhiệm kỳ vừa qua được đánh giá là rất thành công với ngành Giáo dục trong công tác xây dựng pháp luật. Bốn dự án luật quan trọng được Quốc hội thông qua đã xác lập thể chế có tính nền tảng cho giáo dục bao gồm: Luật Nhà giáo, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi). Đấy là chưa kể Nghị quyết “Về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” và “Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035” cũng đã được Quốc hội thông qua… Thế nhưng, vì nhiều lý do, trong đó có sự quan tâm đặc biệt của xã hội với giáo dục mà tại cuộc họp của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát với các bộ ngành, giáo dục vẫn là lĩnh vực nhận được nhiều kiến nghị của cử tri về việc chậm ban hành chính sách. Có cái chậm thuộc về xây dựng từ đầu một chính sách mới như đã nêu ở trên. Có cái chậm chỉ là chỉnh lại câu chữ cho thống nhất trong các văn bản dẫn đến không thể thực hiện cấp học bổng khuyến khích cho học sinh khối chuyên. Lại có sự chậm trễ khi ban hành quy định cụ thể theo thẩm quyền, trách nhiệm được giao như ban hành định mức kinh tế, kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp…
Trong Báo cáo tổng kết thi hành Luật Giáo dục 2019 để trình ra Quốc hội dự thảo Luật Giáo dục 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ ra 3 nguyên nhân khiến việc ban hành một số văn bản còn chậm so với yêu cầu. Đó là: Nguồn lực còn hạn chế trong khi số lượng văn bản dự kiến quá lớn; một số văn bản điều chỉnh những vấn đề phức tạp khó tạo sự đồng thuận giữa các cơ quan liên quan; thủ tục ban hành còn phức tạp, mất nhiều thời gian…
 |
Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã xác lập nền tảng vững chắc bảo đảm hướng tới mục tiêu “biến thể chế từ điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh”. Ảnh minh họa: nhandan.vn
|
Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã xác lập nền tảng vững chắc bảo đảm hướng tới mục tiêu “biến thể chế từ điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh”. Thế nhưng, để việc xây dựng chính sách bảo đảm chất lượng và không bị chậm trễ, cần nỗ lực và quyết tâm cao hơn nữa từ phía các cơ quan thiết kế, xây dựng chính sách.
Trước hết là sự quan tâm cao hơn nữa của người đứng đầu các bộ ngành. Việc Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng thể chế, khâu “đột phá của đột phá”. Thủ tướng Chính phủ dù bận rất nhiều công việc hằng ngày nhưng vẫn thường xuyên đôn đốc, chủ trì các cuộc họp chuyên đề về xây dựng pháp luật... Nếu người đứng đầu các bộ, ngành đặt trọng tâm vào xây dựng thể chế, chắc chắn tình trạng chậm trễ sẽ được cải thiện.
Thứ hai, cần sự phối hợp tốt hơn, nhịp nhàng hơn nữa giữa các cơ quan có liên quan. Dù đã có cơ chế ưu đãi về lương, chi phí xây dựng luật, nhưng nhiều cơ quan, bộ phận trực tiếp chịu trách nhiệm tham mưu xây dựng văn bản nhân lực còn mỏng, khối lượng công việc nhiều lúc dồn ép khá lớn. Do đó, nếu không có cơ chế phối hợp, huy động nguồn lực tổng thể ngay trong bộ và tranh thủ tốt hơn đội ngũ chuyên gia bên ngoài thì sẽ khó đạt được yêu cầu đề ra.
Thứ ba, cần có chỉ đạo thống nhất, đồng bộ. Nghị quyết số 66 nêu rõ, các bộ ngành, cơ quan ít nhất phải bố trí một cấp phó có chuyên môn am hiểu về xây dựng pháp luật. Theo lẽ thông thường, có thể hiểu vị “cấp phó” này là “tham mưu trưởng” giúp bộ trưởng điều hành, chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật cho thống nhất, đồng bộ và bài bản. Tuy nhiên, một bộ đa ngành lại có những lĩnh vực rất chuyên sâu. Cho nên thực tế, có lúc một bộ cùng xây dựng 2, 3 luật liên quan mật thiết nhưng mỗi luật lại do một thứ trưởng chịu trách nhiệm. Làm sao phát huy vai trò “cấp phó am hiểu xây dựng pháp luật”, tránh để mất thời gian bàn bạc, ráp nối và khi triển khai đây đó vẫn vướng mắc do vẫn còn sót những chi tiết, quy định thiếu đồng nhất vẫn là bài toán cần có lời giải.
Cuối cùng, cần có hậu kiểm, giám sát và rà soát thường xuyên. Hằng quý, hằng tháng, các bộ ngành cần rà soát báo cáo xem còn “nợ đọng” bao nhiêu văn bản, lý do tại sao, vướng mắc ở đâu, giải pháp kiến nghị gì và thời điểm cam kết hoàn thành. Nếu không làm tốt việc rà soát, “hậu kiểm” thì chuyện nợ văn bản kéo dài, nhất là với những vấn đề khó, cần xin ý kiến nhiều nơi, tâm lý ngần ngại, sợ sai sót… không có gì là lạ.
Trở lại câu chuyện nợ văn bản đề xuất chế độ cho giáo viên mầm non công tác từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, con số hơn 120.000 đối tượng diện được hưởng sau gần 10 năm giờ chắc chắn đã không còn chính xác. Những nhà giáo mầm non vào nghề từ trên, dưới 60 năm trước. giờ tuổi 80, 90 mắt mờ chân chậm, nhiều người trong số đó đã không thể chờ đến ngày nhận niềm vui hưởng chính sách của nhà nước. Có những cái chậm không thể nào bù đắp lại được.
Nghị quyết số 66 đã đề ra mục tiêu, lộ trình rất cụ thể để quyết tâm biến thể chế từ điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh. Kỳ vọng nhiệm kỳ mới, các bộ ngành sẽ đặt trọng tâm ưu tiên cho xây dựng chính sách, không để còn tình trạng chậm trễ ra chính sách, nợ đọng văn bản kéo dài, bảo đảm thể chế thực sự “mở đường cho kiến tạo phát triển”, như Nghị quyết số 66 đề ra.