Học các cách thức trải nghiệm thất bại

Chia sẻ các nghiên cứu khoa học, học giả Đặng Thị Lan Anh cho biết, nội dung và phương pháp giáo dục hiện nay coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản cho xã hội và từng cá nhân như: Hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, năng lực sáng tạo và tưởng tượng.

Học giả cho biết giáo dục sáng tạo trước nhất cần có sự tham gia của yếu tố hạt nhân, đó là khoa học và công nghệ; cần trang bị cho người học tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề, kỹ năng trao đổi, cộng tác (kỹ năng làm việc nhóm) và kỹ năng phát kiến; định hướng con người phát huy khả năng học liên tục, biết đam mê và nuôi dưỡng đam mê; chọn nghề để học và chọn việc để làm. Thậm chí giáo dục cần trang bị cho người học các cách thức trải nghiệm những thất bại.

“Thất bại là cơ hội để bắt đầu lại theo một cách mới và tốt hơn, thậm chí, coi rủi ro là cơ hội, là “nhân tố phượng hoàng” trong lí thuyết phát triển”, học giả Lan Anh nhấn mạnh.

leftcenterrightdel
Học giả Paul Glewwe chia sẻ tại phiên thảo luận

Nhìn từ hệ sinh thái khởi nghiệp trẻ tại TP Hồ Chí Minh, học giả Dương Văn Thanh, Trường Đào tạo Quốc tế, cho biết mối liên quan giữa hệ sinh thái khởi nghiệp trẻ và nhu cầu về giáo dục mang tính sáng tạo đối với cá nhân.

Dù những bài học thuật và bài báo nói đến rất nhiều điều về khởi nghiệp, nhưng những câu chuyện từ khởi nhiệp trong một hệ sinh thái thực sự không chỉ là nói miệng. Họ đưa ra những câu chuyện và những ngoại lệ đối với những số liệu chúng ta đã đọc. Họ sẻ chia những khó khăn và hy vọng mà họ đối mặt cho khởi nghiệp, học giả này cho biết.

Học giả Dương Văn Thanh chia sẻ: “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng môi trường doanh nghiệp hiện đại nên đi kèm theo sự thay đổi môi trường giáo dục. Cụ thể, chúng ta cần đưa ra mối liên quan đa chiều giữa những khái niệm liên quan đến hoạt động khởi nghiệp và cộng đồng. Nên chăng sự đồng vận của doanh nghiệp và môi trường giáo dục phải linh động, nghĩa là đón nhận ý kiến; tiếp sức trong tự do tìm hiểu và dạy học, đẩy mạnh sự kết nối giữa chính quyền, nhà trường, hiệp hội và cộng đồng”.

Là người đã có nhiều năm nghiên cứu về kết quả PISA (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế), học giả Paul Glewwe, Trường Đại học Minnesota, Hoa Kỳ, bày tỏ băn khoăn điều gì có thể giải thích cho thành công của nền giáo dục Việt Nam so với các quốc gia khác trên bảng đánh giá PISA năm 2012, và điều gì giải thích khoảng cách trong Việt Nam?

Theo nghiên cứu của ông, thu nhập bình quân trên đầu người (GDP) của nhiều quốc gia cao thì kết quả PISA của học sinh cũng tỷ lệ thuận. Tuy nhiên, GDP Việt Nam thấp nhưng kết quả PISA 2012 của học sinh lại cao. “Liệu năng lực học sinh 15 tuổi của Việt Nam có phản ánh đúng như kết quả của PISA?”, học giả Paul đặt câu hỏi, và dẫn chứng: Khi so sánh với các nước khác, các yếu tố về trình độ giáo dục của cha mẹ học sinh Việt Nam, tài sản trong gia đình cũng không cao bằng. “Chúng tôi đang tìm hiểu, mẫu PISA của Việt Nam có đại diện cho học 15 tuổi hay không. Hiện giờ chúng tôi đang nghiên cứu và hy vọng sẽ sớm có câu trả lời”.

Giải đáp băn khoăn này, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ cho biết, khoảng cách GDP và PISA ở Việt Nam rất khác. Lý do bởi, ở Việt Nam có rất nhiều cha mẹ có thể hy sinh tất cả cho con được đi học. Do vậy, không thể nhìn vào mối quan hệ giữa GDP với kết quả học tập của học sinh Việt Nam bậc THCS để đánh giá chất lượng. Ông Paul cho rằng kết quả PISA mới chỉ đánh giá một phần các kỹ năng của học sinh về Toán, logic. Vì thế, điểm PISA cao không có nghĩa là kỹ năng mềm của học sinh tốt, mà phải tìm hiểu, đánh giá thêm.

Giáo dục ĐH đang là “điểm trũng” của giáo dục Việt Nam

Nêu lên thực trạng sinh viên ra trường khó khăn trong khởi nghiệp, từ đó mong muốn các học giả chia sẻ kinh nghiệm để giải quyết vấn đề tại diễn đàn này, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ cho biết, chất lượng giáo dục ĐH hiện nay đang yếu nhất. Số sinh viên chỉ khoảng 230 người/1 vạn dân (bình quân là 450 người), như vậy con số đó hiện nay không nhiều. Tuy nhiên, nguyên nhân khiến nhiều sinh viên khó khăn trong khởi nghiệp, tìm việc làm là bởi trong số 200 trường ĐH công lập và 61 trường ĐH tư thục, có nhiều trường không “không ra hồn” ĐH, không đảm bảo được chất lượng.

leftcenterrightdel
Phiên thảo luận chuyên đề “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực” trong khuôn khổ hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ 5 thu hút nhiều người tham gia

Bên cạnh đó, cộng với tâm lý “du di”, thiếu kết nối thị trường lao động và sau một thời gian tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững, dẫn đến một số doanh nghiệp gần đây “chết lâm sàng” và phá sản. Thị trường không mở là một trong những nguyên nhân của việc thừa gần 400.000 cử nhân.

Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết đã có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng, trong đó có tự chủ ĐH, đây là nhu cầu tự thân của các trường ĐH. Để đảm bảo chất lượng giáo dục ĐH, hiện Nhà nước đang thí điểm cho 18 trường thực hiện tự chủ về 3 nội dung lớn, mức độ tự chủ phụ thuộc vào năng lực quản trị của từng trường.

Học giả Bùi Anh Tuấn, Hiệu trưởng ĐH Ngoại thương chia sẻ một số vấn đề gặp phải khi trường thực hiện tự chủ. Chẳng hạn, thiếu văn bản quy định riêng cho trường ĐH tự chủ, mà chủ yếu dựa vào quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; các trường tự chủ còn phụ thuộc nhiều vào cơ quan chủ quản; một số bộ, ngành quy định các chính sách riêng nên vô hình chung hạn chế quyền tự chủ của trường. Quan hệ của các tổ chức trong nhà trường cũng là vấn đề cần trao đổi thêm. Thu học phí cao cũng là vấn đề khó của các trường thực hiện tự chủ.

Nhiều đại biểu cho rằng, bên cạnh việc tự chủ, phải thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo. Ở Mỹ, các trường ĐH nổi tiếng có chất lượng đào tạo tốt là do cơ chế. Từng bang của nước này có trung tâm kiểm định độc lập đứng ra kiểm định, đánh giá và phân hạng các trường. Vì thế các trường ĐH của Mỹ luôn cố gắng để đạt chất lượng kiểm định, nhằm thu hút sinh viên.

Giải đáp nội dung này, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết, hiện nay đã có 4 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục ĐH. Bộ GD-ĐT đã thông qua thông tư kiểm định các trường ĐH. Vì thế, khi thực hiện kiểm định, các trường phải khắc phục điểm yếu và công khai cho xã hội biết. Trường nào kiểm định đạt chất lượng thì mới được tự chủ.

Chia sẻ những bài học kinh nghiệm, học giả Nguyễn Hữu Cương, Trường Đại học New South Wales, Australia cho rằng bảo đảm chất lượng giáo dục đại học đã được triển khai ở Việt Nam được hơn mười năm. Thực tế đã chứng minh rằng phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo đảm chất lượng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống bảo đảm chất lượng giáo đại học Việt Nam từ khi hệ thống này được thành lập.

Bài, ảnh: THU HÀ