Không chạy theo những sản phẩm hình thức

Những năm gần đây, giáo dục STEM từng bước được đưa vào trường phổ thông thông qua các tiết học tích hợp, hoạt động trải nghiệm, câu lạc bộ khoa học và cuộc thi sáng tạo. Thay vì chỉ tiếp nhận kiến thức trong sách giáo khoa, học sinh có cơ hội thực hành, thử nghiệm, thiết kế sản phẩm và tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề gần gũi với đời sống. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Học sinh Trường THCS Trưng Vương (phường Cửa Nam, TP Hà Nội) tham gia Ngày hội STEM và công nghệ thông tin. Ảnh: THU HÀ

Là một trong những trường công lập tiên phong triển khai giáo dục STEM tại Hà Nội, hơn 10 năm qua, Trường THCS Trưng Vương (phường Cửa Nam, TP Hà Nội) từng bước tích hợp phương pháp giáo dục này vào các môn học và hoạt động trải nghiệm. Để nâng cao hiệu quả triển khai, nhà trường chủ động phối hợp với giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, các chuyên gia giáo dục và đội ngũ cựu học sinh trong việc tư vấn, hướng dẫn các em thực hiện những dự án nghiên cứu, sáng tạo, đặc biệt trong lĩnh vực robot, lập trình và trí tuệ nhân tạo. Chuyển biến rõ nét nhất của mô hình giáo dục này không chỉ nằm ở số lượng sản phẩm mà còn ở sự chủ động trong học tập và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh. Thông qua quá trình nghiên cứu, thực hành, các em hình thành kỹ năng quan sát, phân tích vấn đề, tự học và tư duy sáng tạo. Việc huy động kiến thức từ nhiều môn học để giải quyết một tình huống cụ thể cũng giúp học sinh hiểu sâu hơn bản chất kiến thức, thay vì chỉ ghi nhớ lý thuyết.

Tháo gỡ khó khăn 

Dù có những kết quả tích cực bước đầu nhưng việc đưa giáo dục STEM vào trường học vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là về cơ sở vật chất, học liệu và kinh phí tổ chức. Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Hiệu trưởng Trường THCS Trưng Vương chia sẻ: “Thực tế, hoạt động STEM không nhất thiết phải gắn với những thiết bị đắt tiền hay mô hình phức tạp. Nhiều ý tưởng sáng tạo có thể được hiện thực hóa bằng vật liệu đơn giản, dễ tìm, chi phí thấp. Tuy nhiên, đối với những dự án liên quan đến robot, lập trình hay ứng dụng công nghệ, việc trang bị thiết bị và học liệu chuyên dụng là yêu cầu khó tránh khỏi. Trong khi đó, nguồn kinh phí của nhà trường có hạn, quá trình phân bổ kinh phí cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm sự công bằng giữa các nhóm học sinh. Nếu tập trung đầu tư cho một số dự án chuyên sâu, nhà trường phải cân nhắc để không ảnh hưởng đến cơ hội tham gia hoạt động giáo dục của học sinh khác”.  

Từ thực tiễn đó, Thông tư số 86/2026/TT-BGDĐT đã tạo cơ sở pháp lý để tổ chức giáo dục STEM theo hướng bài bản, linh hoạt và phù hợp với điều kiện của từng nhà trường. Theo đó, hoạt động STEM được triển khai thông qua 3 hình thức: Bài học STEM, hoạt động trải nghiệm STEM và hoạt động nghiên cứu khoa học, kỹ thuật của học sinh, không làm phát sinh môn học, thời lượng học tập bắt buộc, đầu điểm hay hồ sơ, sổ sách riêng. Quy định này giúp các cơ sở giáo dục chủ động tích hợp STEM vào kế hoạch giảng dạy, đồng thời hạn chế áp lực về thành tích, khuyến khích chú trọng chất lượng hoạt động thực hành, trải nghiệm.

Đánh giá về những quy định mới, bà Đào Thị Hồng Quyên, nhà sáng lập, Giám đốc điều hành Liên minh thúc đẩy giáo dục STEM (SEPA) cho rằng: “Thông tư số 86/2026/TT-BGDĐT đã cụ thể hóa nhiều nội dung từ thực tiễn triển khai giáo dục STEM, làm rõ các khái niệm, định hướng xây dựng hệ sinh thái giáo dục STEM và quy định về hình thức, cách thức tổ chức hoạt động trong nhà trường. Qua đó, tạo cơ sở để các cơ sở giáo dục triển khai giáo dục STEM bài bản, đồng bộ, đồng thời tăng cường sự kết nối giữa nhà trường với các tổ chức, đơn vị chuyên môn và nguồn lực xã hội”. Tuy nhiên, để những quy định này thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục chú trọng bồi dưỡng năng lực giáo viên, phát triển nguồn học liệu và bảo đảm các điều kiện phục vụ hoạt động thực hành, trải nghiệm. Đặc biệt, cần có cơ chế ghi nhận, đánh giá và đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ giáo viên trực tiếp xây dựng bài học, hướng dẫn học sinh nghiên cứu và thực hiện các dự án STEM. Bởi những hoạt động này đòi hỏi giáo viên đầu tư đáng kể thời gian, công sức và chuyên môn ngoài việc giảng dạy thông thường. Việc ghi nhận tương xứng sẽ tạo động lực để giáo viên chủ động đổi mới phương pháp, duy trì hoạt động STEM thường xuyên, bền vững, hiệu quả.