Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển loại hình du lịch này với hàng nghìn làng nghề lâu đời. Từ lụa Vạn Phúc (Hà Nội), đá mỹ nghệ Ninh Vân (Ninh Bình), gốm Bàu Trúc (Khánh Hòa), đúc đồng Phước Kiều (Đà Nẵng) đến các làng dệt thổ cẩm của đồng bào miền Trung và Tây Nguyên, mỗi nơi đều lưu giữ kỹ thuật độc đáo cùng những câu chuyện văn hóa riêng.
Thực tế cho thấy tiềm năng ấy hoàn toàn có thể khai thác hiệu quả. Ngay từ đầu thập niên 2000, làng Bát Tràng (Hà Nội) đã phát triển hoạt động trải nghiệm làm gốm cho du khách, tạo sức hút bền vững và trở thành mô hình tiêu biểu của du lịch làng nghề Việt Nam.
 |
| Du khách quốc tế trải nghiệm làm gốm tại làng gốm Bàu Trúc (Khánh Hòa). Ảnh: QUỲNH AN |
Không chỉ góp phần bảo tồn di sản, du lịch làng nghề còn mang lại giá trị kinh tế trực tiếp. Người dân có thêm thu nhập từ bán sản phẩm, tạo việc làm và khôi phục nhiều nghề truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Những sản phẩm thủ công được tiêu thụ ngay tại điểm đến cũng có thể xem là một hình thức "xuất khẩu tại chỗ", vừa gia tăng giá trị kinh tế, vừa đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với du khách trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nhiều làng nghề vẫn chưa tạo được những trải nghiệm đủ hấp dẫn để giữ chân du khách. Hạ tầng còn thiếu đồng bộ, nhiều nơi chưa có không gian trình diễn, lưu trú hay dịch vụ ăn uống đáp ứng nhu cầu. Không ít hoạt động trải nghiệm vẫn mang tính hình thức, khiến du khách chỉ dừng lại chưa đến một giờ để chụp ảnh với địa điểm hoặc sản phẩm đặc trưng rồi rời đi.
Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm còn chậm đổi mới mẫu mã theo nhu cầu thị trường. Người làm nghề tuy giàu kinh nghiệm và kỹ thuật nhưng còn hạn chế về kỹ năng thuyết minh, đón tiếp và kinh doanh. Sự liên kết giữa làng nghề với doanh nghiệp lữ hành cũng chưa chặt chẽ, khiến các tour ngắn, mức chi tiêu của du khách thấp. Nếu chỉ bán sản phẩm mà thiếu những câu chuyện về con người, lịch sử và giá trị văn hóa phía sau, làng nghề rất dễ bị thương mại hóa, đánh mất bản sắc vốn là sức hấp dẫn lớn nhất. Dù sở hữu hệ thống làng nghề phong phú nhưng đến nay chỉ có số ít làng nghề khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch và tạo được nguồn thu đáng kể.
Để phát huy lợi thế, du lịch làng nghề đang chuyển dần từ mô hình tham quan, mua sắm sang mô hình trải nghiệm, nơi mỗi sản phẩm đều kể một câu chuyện và mỗi nghệ nhân trở thành một sứ giả văn hóa. Mỗi làng nghề đang xây dựng thương hiệu gắn với lịch sử, con người và bản sắc địa phương, đồng thời phát triển sản phẩm theo hướng sáng tạo, bền vững.
Trong quy trình đó, Nhà nước tham gia đầu tư hạ tầng, hỗ trợ vốn và đào tạo kỹ năng làm du lịch cho người dân. Doanh nghiệp lữ hành cần phối hợp chặt chẽ với các làng nghề để xây dựng những hành trình hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách. Cùng với đó là sự đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số, thông qua lễ hội, hội chợ và các chương trình xúc tiến du lịch, đồng thời khuyến khích thế hệ trẻ ứng dụng công nghệ để làm mới cách kể câu chuyện về nghề truyền thống.
Nếu được đầu tư bài bản, du lịch làng nghề sẽ tạo ra giá trị kép, vừa mang lại sinh kế bền vững cho cộng đồng, vừa gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam. Xa hơn, đây không chỉ là một hướng phát triển của ngành du lịch mà còn là cách biến các làng nghề thành những không gian văn hóa sống, nơi di sản tiếp tục được trao truyền, tạo động lực cho kinh tế địa phương và góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.