Phổ cập kỹ năng số
Trong triển khai các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tuyên Quang chú trọng công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức. Tỉnh đã tổ chức lồng ghép tuyên truyền Nghị quyết số 57-NQ/TW tại nhiều hội nghị các cấp theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, thu hút hàng chục nghìn lượt người tham gia.
Cùng với tuyên truyền, tỉnh ban hành 86 văn bản chỉ đạo, triển khai, tập trung vào hoàn thiện thể chế, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Các nhiệm vụ được phân công cụ thể, gắn trách nhiệm người đứng đầu, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả. Đây là cơ sở để các cấp, ngành đưa nội dung chuyển đổi số vào chương trình công tác, tránh triển khai chung chung, thiếu địa chỉ chịu trách nhiệm.
 |
| Giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến cho người dân xã biên giới Lũng Cú (Tuyên Quang). Ảnh: TTXVN |
Để các nền tảng số đi vào vận hành, trước hết, cán bộ, đảng viên phải hiểu đúng, làm được và có khả năng hướng dẫn người dân. Vì vậy, tỉnh chú trọng tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giải quyết công vụ và thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức, viên chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến 124/124 xã, phường. Từ ngày 1-7-2025 đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức 55 lớp tập huấn với hơn 11.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia. Trên nền tảng đó, Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai như một bước nối giữa hệ thống chính trị và người dân. Sau khi HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 10/2026/NQ-HĐND ngày 22-4-2026 quy định chính sách hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng, toàn tỉnh tiếp tục củng cố, duy trì hiệu quả 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 20.250 thành viên tại 100% xã, phường và thôn, tổ dân phố.
Ý nghĩa của các Tổ công nghệ số cộng đồng nằm ở chỗ tạo được lực lượng gần dân, sát dân, hiểu điều kiện cụ thể của từng địa bàn. Ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, không phải người dân nào cũng có khả năng tự tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, thanh toán số hay các nền tảng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người” có ý nghĩa thiết thực, nhất là trong giai đoạn đầu phổ cập kỹ năng số. Cùng với Tổ công nghệ số cộng đồng, các mô hình “Mặt trận số”, “Gia đình số”, “Chi hội số” cũng được duy trì, góp phần mở rộng không gian tham gia của người dân trên môi trường số. 100% cán bộ đã ứng dụng hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số và nền tảng “Mặt trận số” liên thông đến toàn bộ 124 cơ sở cấp xã; 100% chi bộ duy trì hiệu quả “Sổ tay đảng viên điện tử”. Điều đó cho thấy Tuyên Quang không triển khai chuyển đổi số theo hướng đơn tuyến từ cấp tỉnh xuống cơ sở mà đã hình thành mạng lưới hỗ trợ nhiều tầng, nhiều lực lượng.
Hiệu quả trong phục vụ và phát triển
Từ nền tảng phổ cập kỹ năng số ở cơ sở, Tuyên Quang từng bước gắn Phong trào “Bình dân học vụ số” với các nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số. Trong chuyển đổi số hệ thống chính trị, tỉnh đã cơ bản hoàn thiện việc hợp nhất hạ tầng số, chuyển mạnh phương thức làm việc sang môi trường mạng an toàn, hiện đại. Hệ thống quản lý văn bản, điều hành và Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh đáp ứng mô hình chính quyền địa phương hai cấp với khối lượng xử lý công việc lớn. Từ ngày 1-7-2025 đến nay, hệ thống có hơn 25.000 tài khoản hoạt động, trao đổi gần 500.000 văn bản điện tử.
Công tác xây dựng, khai thác dữ liệu cũng được đẩy mạnh. Tuyên Quang đã cập nhật đồng bộ 100% hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức lên Cơ sở dữ liệu quốc gia với khoảng 45.000 hồ sơ cán bộ, viên chức và 1.930 cơ sở dữ liệu của tổ chức, cơ quan, đơn vị; quản lý hơn 106.000 hồ sơ người có công, đối tượng chính sách trên cơ sở hợp nhất hệ thống của hai tỉnh trước sáp nhập. Khối lượng tài liệu lưu trữ điện tử tăng mạnh, đã số hóa khoảng 15,1 triệu trang tài liệu.
Trong lĩnh vực thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến, toàn tỉnh có 2.776 thủ tục hành chính, trong đó 100% thủ tục hành chính được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính. Tỉnh đã phê duyệt phương án đơn giản hóa 1.621 thủ tục hành chính, đạt 58,31%. Kết quả Bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo thời gian thực trên môi trường điện tử năm 2025 đạt 84,41 điểm, xếp thứ 10/34 tỉnh, thành phố. Cùng với đó, tỉnh triển khai 34 điểm đại lý dịch vụ công trực tuyến, bước đầu hình thành mạng lưới hỗ trợ người dân tiếp cận, nộp và theo dõi hồ sơ trên môi trường số.
Trong lĩnh vực xã hội số, nhiều kết quả đã tác động trực tiếp đến đời sống dân sinh. Về y tế, 378/378 cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện khám, chữa bệnh bằng căn cước công dân gắn chip. Việc chi trả chính sách qua tài khoản đạt kết quả cao: Trợ cấp thất nghiệp đạt 100%, lương hưu đạt 90%, bảo hiểm xã hội một lần đạt 99,2%. Trong giáo dục, học bạ số được phủ kín tại 279/279 trường tiểu học. Các kênh tiếp nhận, giải quyết phản ánh, kiến nghị của người dân như ứng dụng Chính quyền số tỉnh Tuyên Quang, Cổng thông tin điện tử tỉnh, kênh số 1022 Tuyên Quang tiếp tục được duy trì.
Kinh tế số ở Tuyên Quang cũng có bước phát triển. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh năm 2025 đạt 7,39%; tỉnh phấn đấu năm 2026 đạt 7,71%. Có 2.613 sản phẩm của 1.070 doanh nghiệp được quảng bá trên sàn thương mại điện tử của tỉnh; nhiều sản phẩm OCOP, đặc sản được đưa lên các sàn thương mại điện tử như Lazada, Shopee...
Dù đạt nhiều kết quả bước đầu, Tuyên Quang cũng còn những khó khăn, hạn chế. Hạ tầng số tại một số địa bàn chưa đồng bộ; toàn tỉnh vẫn còn 199 thôn, bản chưa có hoặc còn lõm sóng; hệ thống thiết bị tại một số cơ sở chưa đồng bộ, cấu hình thấp. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa hoàn thiện, còn phân tán; tiến độ số hóa chưa đồng đều; vẫn còn tình trạng xử lý song song hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử ở một số lĩnh vực. Kỹ năng số của một bộ phận cán bộ, công chức và người dân còn hạn chế; mức độ tiếp cận, sử dụng công nghệ chưa đồng đều, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
Những hạn chế đó cho thấy, chuyển đổi số là quá trình lâu dài, cần được triển khai kiên trì, đồng bộ, có trọng tâm. Với cách làm bắt đầu từ cơ sở, lấy phổ cập kỹ năng số làm nền tảng, Tuyên Quang đang từng bước tạo điều kiện để người dân tham gia và thụ hưởng quá trình chuyển đổi số. Những kết quả trong dịch vụ công trực tuyến, xã hội số, kinh tế số, thanh toán không dùng tiền mặt, y tế, giáo dục, du lịch cộng đồng cho thấy Phong trào “Bình dân học vụ số” đang được đặt đúng vào yêu cầu phát triển của địa phương, góp phần đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.