Qua 40 năm đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn trong quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ hơn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; ưu tiên bố trí nguồn lực cho an sinh xã hội, phát triển con người. Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Y tế Việt Nam được quốc tế đánh giá cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khỏe. Chỉ số bao phủ dịch vụ y tế thiết yếu của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực, nhiều chỉ số về sức khỏe người dân vượt trội so với các quốc gia có cùng mức phát triển.
 |
| Ảnh minh họa: VGP |
Quán triệt sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của phát triển xã hội bền vững đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIV của Đảng đã xác định “Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân” là một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030. Điều này thể hiện tư duy nhạy bén và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, là vấn đề hệ trọng cho sự phát triển thịnh vượng, bền vững của đất nước.
Các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026-2030 về xã hội đã xác định: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất.
Đại hội XIV xác định mục tiêu, chỉ tiêu trên là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện bước tiến toàn diện, nhân văn và hiện đại. Chỉ số phát triển con người đặt ở mức 0,8 cao hơn so với mức 0,766 trong phần đánh giá, cho thấy Đảng ta xác định rõ định hướng lấy con người làm trung tâm. Tuổi thọ trung bình nâng lên 75,5 tuổi vượt rõ rệt so với mức 74,8 tuổi và 67 năm sống khỏe năm 2025. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20% phản ánh quyết tâm chuyển dịch cơ cấu, nâng cao chất lượng nhân lực của Đảng và Nhà nước ta. Việc xác định rõ các mục tiêu, chỉ tiêu trên không chỉ tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để định hướng phát triển trong 5 năm tới mà còn động viên, cổ vũ toàn xã hội cùng nỗ lực thực hiện; đồng thời là thước đo quan trọng để giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách, bảo đảm sự phát triển nhanh đi đối với bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: “Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững”. Yếu tố “hiện đại” thể hiện tư duy quản trị tiên tiến, ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, quản lý dựa trên dữ liệu và tiêu chuẩn quốc tế, nhằm đáp ứng kịp thời những thách thức của thời kỳ mới.
“Toàn diện” thể hiện đầy đủ hơn cả về nguyên tắc, nội dung, mục đích và phương thức thực hiện quản lý phát triển xã hội, khẳng định rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạch định, tổ chức thực thi, giám sát, đánh giá chính sách phát triển xã hội cũng như hoàn thiện thể chế quản trị chung của đất nước. “Bao trùm” nhấn mạnh sự quản lý nhà nước về chính sách phát triển xã hội đối với mọi đối tượng, thuộc mọi vùng, miền, trên mọi lĩnh vực, không để ai bị bỏ lại phía sau.
“Bền vững” khẳng định sự ổn định lâu dài. Cùng với đó, “phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu” phản ánh sự thống nhất giữa các trụ cột phát triển, bảo đảm hài hòa lợi ích, duy trì ổn định, đồng thuận và phát triển bền vững.
Những vấn đề trên là sự quán triệt và thực hiện nhất quán định hướng xuyên suốt của Đảng bảo đảm gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội hài hòa, toàn diện, bền vững, đặt con người làm trung tâm, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân.
Đại hội XIV đề cao tính hành động và cụ thể hóa chính sách; có sự đổi mới trong việc cụ thể hóa các chương trình, đề án, dự án ngay sau đại hội. Điều này cho thấy sự quyết tâm cao độ trong việc triển khai các chính sách quản lý, phát triển xã hội bền vững. Để vận hành các chính sách hiệu quả, trước hết cần đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực xã hội theo hướng kết hợp chặt chẽ hơn các chính sách kinh tế với chính sách xã hội để tăng trưởng kinh tế thực sự gắn kết với phát triển xã hội công bằng, bảo đảm an sinh xã hội. Có cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thực hiện các chính sách trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, tập trung nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của nhân dân thông qua các can thiệp tích hợp (dự phòng, khám, chữa bệnh, quản lý, nâng cao sức khỏe, trợ giúp xã hội, hỗ trợ cộng đồng...). Chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chú trọng bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số, thích ứng với xu hướng già hóa dân số và dân số già.
Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng tới hiện đại, hội nhập và bao phủ toàn bộ lực lượng lao động dựa trên mô hình đa tầng: Trợ cấp hưu trí xã hội, bảo hiểm xã hội cơ bản (bắt buộc/tự nguyện) và hưu trí bổ sung. Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, kết nối dữ liệu dân cư, y tế, lao động và mở rộng chi trả không dùng tiền mặt, nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp lên tối thiểu 95%.
Điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, tăng tuổi nghỉ hưu phù hợp với từng thời kỳ và cải cách chế độ tiền lương. Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm an toàn, bền vững quỹ lâu dài và chủ động hội nhập để bảo vệ quyền lợi người lao động trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện hệ thống trợ giúp xã hội, các chính sách an sinh đối với các đối tượng yếu thế. Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, điều chỉnh mức chuẩn theo hướng bảo đảm mức sống tối thiểu, phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội từng thời kỳ. Mở rộng đối tượng và chính sách, bổ sung đối tượng yếu thế (người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em mồ côi). Tăng mức trợ giúp thường xuyên, đột xuất và nâng cao các mức hỗ trợ chi phí mai táng, nhà ở, y tế. Số hóa cơ sở dữ liệu đối tượng chính sách, gắn định danh điện tử, thống nhất quản lý, cập nhật dữ liệu chính xác và minh bạch.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, quyết liệt của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đóng góp tích cực của lực lượng vũ trang, trong đó có ngành quân y, sẽ tạo sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho người dân, góp phần hình thành các cực tăng trưởng bền vững mới, hiện thực hóa khát vọng phát triển mạnh mẽ, hùng cường, thịnh vượng của dân tộc trong kỷ nguyên mới.