Là một bộ phận của ngoại giao văn hóa, ngoại giao học thuật (academic diplomacy) sử dụng giáo dục, nghiên cứu khoa học, trao đổi học giả, hợp tác đại học và các mạng lưới tri thức để xây dựng quan hệ quốc tế, thúc đẩy lợi ích quốc gia. Không chỉ là trao đổi sinh viên hay ký kết hợp tác, ngoại giao học thuật còn là việc hình thành các trung tâm nghiên cứu quốc tế, các chương trình học bổng chiến lược, các diễn đàn tri thức toàn cầu, mạng lưới chuyên gia xuyên quốc gia, xuất khẩu mô hình giáo dục.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngoại giao học thuật đang trở thành một phương thức quan trọng để mở rộng ảnh hưởng, xây dựng hình ảnh và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Cạnh tranh quốc tế đang chuyển từ “sức mạnh cứng” sang “sức mạnh mềm”, từ tài nguyên vật chất sang tài nguyên tri thức. Ngoại giao học thuật trở thành xu thế chung của thời đại.
 |
| Một buổi trao đổi học thuật tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: CTV |
Đặc trưng của ngoại giao học thuật là khả năng tạo ảnh hưởng lâu dài. Từng học tập tại một quốc gia, mỗi sinh viên sẽ mang theo suốt đời những ấn tượng sâu sắc về văn hóa, tư tưởng cùng các mối quan hệ xã hội. Thế nên, giáo dục đại học được coi là “đại sứ mềm”.
Với phương châm phải dẫn đầu bằng sức mạnh đại học và học thuật, Hoa Kỳ là nước tiêu biểu cho xu hướng ngoại giao học thuật hiện nay. Có hệ thống đại học hàng đầu thế giới (như Harvard University, Stanford University...), là những cơ sở đào tạo, cũng là những trung tâm ảnh hưởng lớn về nhiều mặt, Hoa Kỳ thu hút hàng triệu sinh viên quốc tế mỗi năm. Nhiều nguyên thủ, doanh nhân, học giả nổi tiếng thế giới từng học tập tại Mỹ. Qua quá trình đào tạo, họ tiếp nhận kiến thức, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, tinh thần tự do học thuật... Tiêu biểu cho ngoại giao học thuật Mỹ là Chương trình học bổng Fulbright, thành lập từ năm 1946. Thông qua chương trình này, Hoa Kỳ xây dựng ảnh hưởng quốc gia trên phạm vi toàn thế giới.
Trung Quốc đang ráo riết đẩy mạnh “quyền lực mềm” bằng cách đầu tư rất mạnh cho ngoại giao học thuật, coi giáo dục và khoa học, công nghệ là công cụ chiến lược nhằm nâng cao vị thế quốc tế. Cụ thể, Trung Quốc đã triển khai hàng loạt chương trình học bổng dành cho sinh viên châu Á, châu Phi, Mỹ Latin. Đồng thời mở rộng mạng lưới viện Khổng Tử (Confucius Institute) tại nhiều nước, vừa dạy tiếng Trung, vừa quảng bá văn hóa, tăng cường hiểu biết về Trung Quốc. Các đại học trọng điểm (như Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa...) có vị trí cao trên bảng xếp hạng quốc tế, giúp Trung Quốc thu hút sinh viên quốc tế, từng bước cạnh tranh ảnh hưởng học thuật với phương Tây.
Thực tế cho thấy vai trò của ngoại giao học thuật thể hiện ở 3 phương diện. Một là, tăng cường “quyền lực mềm” quốc gia: Khái niệm quyền lực ngày nay được hiểu rộng hơn, không chỉ ở quân sự, kinh tế mà còn ở khả năng hấp dẫn về văn hóa, tri thức, giá trị. Những công trình khoa học, học giả nổi tiếng hay trường đại học đẳng cấp là biểu tượng sinh động của năng lực quốc gia. Hai là, thúc đẩy hợp tác khoa học và đổi mới sáng tạo: Trong bối cảnh các vấn đề biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh năng lượng, trí tuệ nhân tạo ngày càng phức tạp, hợp tác khoa học quốc tế trở thành nhu cầu tất yếu. Ngoại giao học thuật tạo điều kiện cho các nước chia sẻ tri thức, công nghệ. Các mạng lưới nghiên cứu quốc tế giúp tập hợp nguồn lực trí tuệ toàn cầu, rút ngắn khoảng cách phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ba là, thông qua trao đổi sinh viên, học giả, góp phần xây dựng được đội ngũ nhân lực trình độ cao. Trở về sau thời gian học tập ở nước ngoài, nhiều nhà khoa học có đóng góp quan trọng cho đất nước.
Như vậy, ngoại giao học thuật ngoài ý nghĩa đối ngoại, cơ bản hơn, là chiến lược phát triển nhân lực lâu dài.
Việt Nam đã và đang từng bước mở rộng hợp tác giáo dục quốc tế, có quan hệ đào tạo, nghiên cứu với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Pháp, Australia, Đức... Nhiều chương trình học bổng quốc tế đã góp phần đào tạo đội ngũ trí thức trẻ. Một số đại học bắt đầu tham gia mạng lưới nghiên cứu khu vực và thế giới. Các trường: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tôn Đức Thắng... đã góp mặt trong bảng xếp hạng quốc tế. Hiện, Việt Nam thu hút sinh viên quốc tế, từ Lào, Campuchia, Hàn Quốc, một số nước châu Phi... Việc quảng bá tiếng Việt, văn hóa Việt Nam ra nước ngoài đang được quan tâm.
Nhìn tổng thể, bức tranh ngoại giao học thuật Việt Nam mới chỉ là những phác thảo: (1) Số lượng đại học đạt chuẩn quốc tế còn ít; năng lực nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế chưa cao. (2) Chưa có nhiều chương trình học bổng mang tầm chiến lược toàn cầu, việc thu hút sinh viên và học giả quốc tế còn hạn chế. (3) “Thương hiệu” học thuật quốc gia chưa tạo được ảnh hưởng với thế giới. Môi trường học thuật quốc tế hóa vẫn là điểm cần quan tâm nhất. (4) Tình trạng “chảy máu chất xám” vẫn diễn ra. Sau khi học tập ở nước ngoài, không ít người không trở về, hoặc về nước nhưng gặp khó khăn, không phát huy hết năng lực.
Vậy cần có những bài học gì?
Một là, xây dựng chiến lược quốc gia về ngoại giao học thuật-coi đó là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển và hội nhập quốc tế. Cần có chính sách tổng thể gắn kết giáo dục, khoa học, công nghệ và đối ngoại.
Hai là, đầu tư mạnh cho đại học và nghiên cứu khoa học; đầu tư trọng điểm cho một số đại học nghiên cứu theo chuẩn quốc tế. Nâng cao tự chủ đại học, cải thiện môi trường nghiên cứu, tạo điều kiện cho tự do học thuật phát triển.
Ba là, thu hút sinh viên và học giả quốc tế. Phải xây dựng các chương trình học bổng quốc tế mang thương hiệu quốc gia; mở rộng chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, cải thiện dịch vụ hỗ trợ sinh viên quốc tế.
Bốn là, phát huy vai trò của cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có nhiều nhà khoa học, chuyên gia trình độ cao. Đây là nguồn lực trí tuệ quý giá để kết nối xây dựng mạng lưới học giả toàn cầu. Tạo cơ chế hợp tác linh hoạt để trí thức Việt ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu, tư vấn chính sách.
Năm là, nhờ có một nền văn hóa giàu bản sắc và lịch sử lâu đời, việc kết hợp ngoại giao học thuật với ngoại giao văn hóa là cách quảng bá văn hóa, tiếng Việt, văn học, nghệ thuật, di sản dân tộc, để tăng sức hấp dẫn quốc gia.
Ngày nay, đất nước nào sở hữu nền giáo dục tiên tiến, mạng lưới học thuật rộng rãi, hiện đại, có khả năng thu hút nhân tài quốc tế thì đất nước đó có lợi thế lớn trong cạnh tranh toàn cầu. Khi tri thức trở thành “sứ giả”, ngoài kết nối các trường đại học, ngoại giao học thuật sẽ kết nối các dân tộc, các nền văn hóa, trở thành điểm tựa để đất nước vươn mình bay vào bầu trời văn minh.