Nội dung chỉ đạo này vừa là phương hướng, vừa là mục tiêu thể hiện tầm nhìn chiến lược, là sợi chỉ đỏ cho quá trình phát triển.
ĐHQG Hà Nội hiện là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu của cả nước, giữ vai trò tiên phong trong đổi mới giáo dục đại học. Những năm gần đây, hệ thống các trường trong ĐHQG Hà Nội có nhiều bước phát triển mạnh cả về quy mô đào tạo, nghiên cứu khoa học và quốc tế hóa. Nhiều ngành học thuộc nhóm công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, kinh tế, luật và y dược đang thu hút nguồn tuyển chất lượng cao. Đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ, giáo sư ngày càng tăng; số lượng công bố quốc tế và hợp tác với các trường đại học nước ngoài cũng được mở rộng. Việc xây dựng đô thị đại học tại Hòa Lạc được xem là bước chuyển chiến lược nhằm tạo không gian nghiên cứu và đào tạo hiện đại theo mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến.
 |
PGS, TS Nguyễn Việt Khôi, Phó hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
|
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nổi bật, ĐHQG Hà Nội cũng đang đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Sự phát triển giữa các trường thành viên chưa đồng đều; các ngành khoa học cơ bản và khoa học xã hội gặp áp lực cạnh tranh trước xu hướng thị trường ưu tiên công nghệ và kinh tế. Cơ chế quản trị đại học dù đã đổi mới nhưng vẫn còn những biểu hiện hành chính hóa, chưa thật sự linh hoạt như các đại học tiên tiến trên thế giới.
Bên cạnh đó, “độ vênh” giữa mục tiêu đại học nghiên cứu với thực tế quản trị hiện nay còn khoảng cách, thể hiện ở: Tỷ lệ nghiên cứu liên ngành còn thấp; doanh nghiệp tham gia đào tạo chưa sâu; nhiều công trình công bố quốc tế nhưng khả năng thương mại hóa còn hạn chế; sinh viên giỏi vẫn có xu hướng du học và làm việc ở nước ngoài.
Hiện nay, quá trình chuyển dịch lên Hòa Lạc cũng đặt ra nhiều vấn đề về hạ tầng giao thông, dịch vụ sinh viên và khả năng thu hút giảng viên lâu dài. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh quốc tế trong đào tạo ngày càng lớn đang đặt ra cho ĐHQG Hà Nội không ít thách thức.
Để thực hiện mục tiêu đưa ĐHQG Hà Nội trở thành nơi hội tụ trí tuệ quốc gia và trung tâm nghiên cứu công nghệ nền tảng hàng đầu như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tôi cho rằng, các trường thành viên cần triển khai đồng bộ nhiều chủ trương và giải pháp chiến lược, từ tổ chức quản trị, thu hút nhân tài đến đổi mới đào tạo và hợp tác quốc tế.
Trước hết, cần tái cấu trúc theo hướng đại học nghiên cứu hiện đại, lấy đổi mới sáng tạo làm trung tâm. Các trường không nên phát triển rời rạc theo từng đơn vị riêng lẻ mà cần hình thành các cụm nghiên cứu liên ngành mạnh về AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu, dữ liệu lớn, năng lượng mới hay công nghệ xanh. Những lĩnh vực này đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, luật và quản trị. Vì vậy, cơ chế phối hợp nội bộ cần linh hoạt hơn, giảm tư duy “cát cứ” giữa các trường thành viên.
Một chiến lược đặc biệt quan trọng là thu hút và giữ chân nhân tài. ĐHQG Hà Nội cần xây dựng cơ chế đủ sức cạnh tranh quốc tế để mời gọi các nhà khoa học lớn, chuyên gia công nghệ, doanh nhân đổi mới sáng tạo và cả trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy. Điều này không chỉ nằm ở chế độ đãi ngộ mà còn ở môi trường học thuật tự do, phòng thí nghiệm hiện đại, quỹ nghiên cứu mạnh và cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt.
Về đào tạo, cần chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức sang đào tạo năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề. Chương trình học phải gắn với doanh nghiệp công nghệ, phòng thí nghiệm và các dự án thực tiễn. Sinh viên cần được tham gia nghiên cứu từ sớm, tiếp cận dữ liệu thật, công nghệ thật và hệ sinh thái khởi nghiệp ngay trong trường đại học. Đồng thời, cần phát triển mạnh các liên ngành như AI kết hợp y học, luật công nghệ, kinh tế số, công nghệ sinh học ứng dụng hay vật liệu thông minh.
Hiện nay, cạnh tranh đại học thực chất là cạnh tranh về hệ sinh thái sáng tạo chứ không chỉ cạnh tranh đào tạo. Những đại học mạnh trên thế giới đều vận hành như một “siêu nền tảng tri thức”, là nơi hội tụ: Vốn đầu tư; doanh nghiệp công nghệ; phòng thí nghiệm; quỹ nghiên cứu; startup; dữ liệu; nhân tài toàn cầu.
Thế nên, trong hợp tác phát triển, ĐHQG Hà Nội cần xây dựng mô hình “tam giác liên kết” giữa nhà trường-doanh nghiệp-Nhà nước. Các tập đoàn công nghệ lớn cần tham gia trực tiếp vào xây dựng chương trình đào tạo, đầu tư phòng thí nghiệm và đặt hàng nghiên cứu. Đây là con đường ngắn nhất để đưa nghiên cứu ra thị trường và tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất.
Việc phát triển khu đô thị đại học Hòa Lạc cũng phải được xem như xây dựng một “thung lũng công nghệ” của Việt Nam. Không gian này cần tích hợp trường học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và khu khởi nghiệp trong cùng một hệ sinh thái mở.
Tiếp đó, muốn trở thành trung tâm trí tuệ quốc gia và đổi mới sáng tạo tầm khu vực, là đại học nghiên cứu, nơi sản sinh tri thức mới thì ĐHQG Hà Nội cần xây dựng văn hóa học thuật thực sự hiện đại: Đề cao sáng tạo, chấp nhận khác biệt, khuyến khích tranh luận khoa học và lấy năng lực nghiên cứu thực chất làm thước đo phát triển. ĐHQG Hà Nội cần vượt qua những “lối mòn cố hữu” đã tồn tại khá lâu trong tổ chức, quản trị và đào tạo đại học ở Việt Nam như tư duy hành chính hóa trong môi trường học thuật; đào tạo nặng lý thuyết, nhẹ thực tiễn và sáng tạo...
Muốn hội tụ trí tuệ lớn, trước hết ĐHQG Hà Nội phải tạo ra môi trường chấp nhận khác biệt lớn. Tâm lý “an toàn học thuật”, ngại tranh luận, ngại phản biện và sợ khác biệt cần phải được loại bỏ. Một đại học muốn trở thành nơi hội tụ trí tuệ lớn thì phải chấp nhận cạnh tranh học thuật mạnh, chấp nhận những ý tưởng mới, thậm chí trái chiều. Khoa học không phát triển trong môi trường chỉ ưu tiên sự đồng thuận hình thức.
Cũng cần khắc phục tình trạng phát triển phân tán, thiếu liên ngành và đôi khi còn có tư duy cục bộ giữa các đơn vị. Các công nghệ nền tảng hiện nay không còn ranh giới cứng giữa các ngành. AI cần toán học, dữ liệu, y học, luật, kinh tế và cả khoa học xã hội. Nếu mỗi trường chỉ phát triển trong “vùng chuyên môn riêng” thì khó tạo ra các trung tâm nghiên cứu lớn có sức cạnh tranh quốc tế.
Một vấn đề khác là bệnh thành tích trong nghiên cứu và đào tạo. Nếu chỉ chạy theo số lượng công bố, bằng cấp hay chỉ tiêu tuyển sinh mà thiếu các công trình thực sự có giá trị ứng dụng và ảnh hưởng học thuật thì sẽ khó đạt mục tiêu trở thành đại học nghiên cứu đẳng cấp cao.
Vì vậy, cải cách lớn nhất có lẽ không chỉ là xây thêm giảng đường hay phòng thí nghiệm, mà là thay đổi văn hóa đại học: Từ tư duy quản lý sang tư duy sáng tạo; từ đào tạo “học để thi” sang “học để nghiên cứu và đổi mới”; từ môi trường an toàn sang môi trường cạnh tranh học thuật thực chất.