Bác sĩ Tạ Lưu sinh năm 1931 tại xã Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh), vùng đất Kinh Bắc trù phú, nổi tiếng với những câu ca quan họ mượt mà và những truyền thống văn hiến lâu đời. Trong nếp nhà thuần hậu nơi miền quê cổ kính, cậu bé Tạ Lưu lớn lên qua những câu chuyện về lòng trung nghĩa, tinh thần yêu nước của bao thế hệ. Có lẽ cũng từ nền văn hóa đó mà trong ông sớm hình thành đức hy sinh, lòng nhân ái và ý chí phụng sự Tổ quốc bằng tất cả khả năng.

Năm 1947, khi mới 16 tuổi, đất nước trong cơn binh lửa, Tạ Lưu tình nguyện theo lớp y tá quân đội. Cậu thiếu niên gầy gò, đôi mắt sáng nhưng quyết đoán ấy nhanh chóng trở thành người lính quân y trẻ phục vụ trong Chiến dịch Trung - Hạ Lào năm 1953. Những ngày đầu đứng trong lán mổ dã chiến, giữa mùi thuốc sát trùng lẫn mùi khói súng, trước mắt là những thân thể bê bết máu của đồng đội, Tạ Lưu thấm thía rằng con đường mình chọn sẽ đối diện với bao thử thách, ranh giới sinh tử, nhưng trên hết là trách nhiệm của người lính quân y.

Đội điều trị 14 trong rừng Trường Sơn năm 1966. Ảnh tư liệu

Sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, đất nước hân hoan trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tạ Lưu được điều về Khoa Phẫu thuật, Viện Quân y 108, nơi hội tụ những bác sĩ xuất sắc nhất lúc bấy giờ. Nhờ kinh nghiệm thực tế dày dặn, ông nhanh chóng trở thành y tá ngoại giỏi, điềm đạm, chắc tay trong từng mũi khâu, vết rạch. Nhưng không dừng lại ở đó, ông luôn tự nhủ: “Giỏi nghề hơn sẽ cứu được nhiều người hơn”. Và thế là giữa những đêm trắng của phòng trực, ông lặng lẽ học thêm, ghi chép, tìm tòi kinh nghiệm.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 1962, ông được chọn về Học viện Quân y đi học lớp bác sĩ. Nỗ lực suốt ba năm, cuối năm 1965, Tạ Lưu tốt nghiệp và được điều về Đội điều trị 14 thuộc Tổng cục Hậu cần, trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu trên tuyến lửa Trường Sơn.

Từ lúc đặt chân đến Trường Sơn, bác sĩ Tạ Lưu mới thật sự hiểu thế nào là gian khổ. Rừng núi mênh mông, thẳm sâu, trập trùng như không bao giờ dứt. Mùa khô, đất bụi, nắng rát. Mùa mưa, suối dâng trắng xóa, rừng rậm ẩm thấp và muỗi vắt bủa vây. Những bom phá, bom bi, bom từ trường mà đế quốc Mỹ ném xuống từng ngày, từng giờ, cày nát cả đường rừng. Ấy vậy mà giữa nơi “cửa tử” ấy, những thầy thuốc quân y như bác sĩ Tạ Lưu vẫn ngày đêm bám trụ để cứu thương binh. Đội điều trị 14 được giao phụ trách các trọng điểm ác liệt trên đường 15 và đường 12. Chỉ một lầm lỡ, cả đội có thể bị xóa sổ.

Khó khăn không làm bác sĩ Tạ Lưu và đồng đội chùn bước. Một căn hầm chữ A, vài tấm ni lông che mưa, chiếc đèn dầu leo lét, một bàn mổ tự chế… tất cả là bệnh viện dã chiến của họ. Nhiều ngày liền, ông phải đứng mổ hơn 10 tiếng. Nhiều đêm không chợp mắt, tiếng gọi cấp cứu lại vang lên giữa rừng. Các thương binh được khiêng đến, mặt còn dính bụi đường Trường Sơn, máu và đất hòa vào nhau. Tạ Lưu không bao giờ từ chối một ca nào, bất kể khó đến đâu.

Thiếu thuốc, thiếu dụng cụ, bác sĩ Tạ Lưu và các đồng đội sáng tạo ra nhiều kỹ thuật “dã chiến”. Đó là gây mê nội khí quản bằng ống tự chế, truyền tĩnh mạch ngược chiều, thậm chí truyền máu trực tiếp khi không có dung dịch chống đông. Những sáng kiến ấy đã cứu sống bao nhiêu sinh mạng ngay tại chiến trường, trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ.

 Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, bác sĩ Tạ Lưu.

Rừng Trường Sơn là nơi của hiểm nguy. Nhưng cũng là nơi của nghĩa tình, nơi người lính gửi gắm niềm tin vào bàn tay người thầy thuốc. Một lần, trong chuyến công tác tại Khe Hổ, nghe tin có thương binh nặng, bị hổ rình rập trong rừng sâu, bác sĩ Tạ Lưu cùng đồng đội không chút do dự, luồn rừng vượt suối để tìm cho bằng được. Trước mắt là khe đá im lìm, thấp thoáng dấu chân hổ. Cuối cùng, họ đưa được thương binh về và cứu sống anh trong gang tấc.

Một trong những câu chuyện trên tuyến lửa Trường Sơn mà bác sĩ Tạ Lưu còn nhớ mãi, đó là cứu chữa cho đồng chí Nguyễn Văn Khán - Đại đội trưởng Đại đội pháo cao xạ 37mm, Tiểu đoàn 13, Trung đoàn 280 chốt ở bến phà Xuân Sơn bị thương nặng do đạn pháo địch bắn vào thấu bụng, nhiễm trùng rất nguy kịch. Bác sĩ Tạ Lưu nhớ lại, đó là vào khoảng 4 giờ sáng, giữa màn sương lạnh, ông bị đánh thức bởi tiếng điện thoại reo lên gấp gáp:

- Báo cáo, đề nghị Đội điều trị 14 cử đội phẫu thuật vào Troóc! Có một thương binh bị viêm phúc mạc nặng, không chuyển đi được!

- Đồng chí ở đâu?

- Tôi là y sĩ phụ trách bệnh xá của đơn vị thanh niên xung phong ở Troóc.

- Tại sao đồng chí không chuyển ca đó ra ngoài này?

- Tình trạng thương binh rất nặng, chuyển đi sợ mất ngang đường…

Ngay sau khi nhận tin, bác sĩ Tạ Lưu lập tức đánh thức bác sĩ Lê Văn Đính - Đội trưởng Đội điều trị 14, cùng đồng chí Nguyễn Ước - Chính trị viên và đồng chí Huy Sơn - Đội phó Hậu cần để hội ý khẩn. Trong gian lán nhỏ còn vương hơi sương núi, cuộc trao đổi diễn ra nhanh chóng. Ai cũng hiểu rõ hiểm nguy của việc cơ động hơn 70km giữa ban ngày, trên tuyến đường luôn nằm trong tầm oanh kích của máy bay địch. Thế nhưng, trước yêu cầu cứu chữa thương binh đang nguy kịch, tập thể Đội điều trị 14 vẫn thống nhất đội phẫu thuật phải lập tức lên đường.

Bác sĩ Tạ Lưu cùng 9 người khác nhanh chóng chuẩn bị tư trang. Ngoài chiếc ba-lô với vài vật dụng sinh hoạt, trên vai ông lúc nào cũng có một chiếc túi vải nhỏ đựng bộ dụng cụ phẫu thuật, thuốc men, bông băng.

Con đường từ Hóa Tiến (Minh Hóa, Quảng Bình) đến Troóc (Bố Trạch, Quảng Bình) vốn gập ghềnh nay lại bị bom đạn cày xới, lở loét như những vết thương lớn của đất. Xe không thể chạy nhanh; nhiều đoạn, cả đội phải xuống sửa lại mặt đường, xúc đất đá hoặc cùng nhau đẩy xe vượt qua những đoạn lầy nhão sau trận mưa đêm. Giữa ban ngày trên tuyến lửa, chiếc xe của Đội phẫu thuật khiến nhiều đội viên Thanh niên Xung phong đang làm nhiệm vụ dọc đường không khỏi ngạc nhiên. Nhưng khi biết xe chở bác sĩ đi cứu thương binh, ai nấy đều động viên, chạy ra hỗ trợ, dẫn đường hoặc giúp xe vượt qua những đoạn khó.

Đến 4 giờ chiều, Đội phẫu thuật đến nơi an toàn. Vừa bước vào lán, đọc bệnh án, bác sĩ Tạ Lưu lặng người. Đó là anh Nguyễn Văn Khán - Đại đội trưởng Đại đội pháo cao xạ 37mm, người mà ông từng mổ cắt lách nửa năm trước. Người lính cứng cỏi ấy lại một lần nữa bị thương, lần này còn nặng hơn. Gương mặt anh tái nhợt, hơi thở khò khè, bụng trướng do nhiễm trùng nặng.

Khám xong cho bệnh nhân, bác sĩ Tạ Lưu quyết định vừa hồi sức tích cực, vừa mổ sớm mới có hy vọng. Ca mổ bắt đầu, ruột non bị thủng nhiều chỗ, một số quai ruột dính chằng chịt vào nhau, có đoạn ruột đã tím bầm. Bác sĩ Tạ Lưu vừa gỡ dính, khâu các lỗ ruột thủng vừa động viên kíp mổ phải cẩn thận, kiên trì. Trong suốt quá trình mổ, y sĩ Nguyễn Văn Định cùng y tá Nguyễn Thị Tâm phải liên tục theo dõi tình hình mạch, huyết áp. Có những lúc, huyết áp tụt xuống thấp làm kíp mổ thêm căng thẳng. Sau 3 tiếng làm việc, bác sĩ Tạ Lưu đã loại trừ được ổ nhiễm độc và nhiễm trùng, huyết áp bệnh nhân đã ổn định. Ông cùng các đồng nghiệp lau rửa kỹ ổ bụng, đặt 4 ống dẫn lưu, đóng thành bụng và kết thúc ca mổ.

Vừa kết thúc ca mổ cho bệnh nhân Khán, bác sĩ Tạ Lưu cũng không ngờ ngày hôm đó ông và kíp mổ tiếp tục phải mổ cho 3 bệnh nhân khác. Bộ dụng cụ phẫu thuật được y sĩ Nguyễn Văn Định luộc lại để vô trùng. Bác sĩ Tạ Lưu và các đồng nghiệp tiếp tục mổ cho các bệnh nhân đến chiều tối ngày hôm sau mới xong việc.

Sau chuyến công tác ấy, bác sĩ Tạ Lưu càng trở thành điểm tựa tinh thần cho Đội điều trị 14. Mọi người nhắc đến ông như một người anh, một người bác sĩ, một chiến sĩ có thể mang hy vọng đến ngay cả trong lúc hiểm nguy nhất. Với những thành tích xuất sắc, tháng 6 năm 1969, khi mới 38 tuổi, bác sĩ Tạ Lưu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đội điều trị 14 vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1973.

Năm 1970, bác sĩ Tạ Lưu trở lại miền Bắc học nâng cao tại Bệnh viện Việt - Đức dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Tôn Thất Tùng. Sau đó, ông được cử đi học sau đại học tại Học viện Quân y Kirov (Liên Xô). Về nước, ông lần lượt giữ chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung, Viện phó rồi Viện trưởng Viện Quân y 110 (nay là Bệnh viện Quân y 110). Năm 1993, ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, kết thúc 46 năm bền bỉ cống hiến cho quân đội và nhân dân.

Nhìn lại chặng đường hơn ba thập kỷ khoác áo lính và cống hiến cho ngành quân y, bác sĩ Tạ Lưu đã để lại một di sản lớn của tinh thần tận tụy, quả cảm và lòng nhân ái ông trao gửi cho từng người bệnh. Từ một cậu thiếu niên 16 tuổi bước vào chiến trường, ông đã trở thành điểm tựa của đồng đội, cứu chữa cho người bệnh giữa lằn ranh sinh tử. Mỗi khi nhắc đến bác sĩ Tạ Lưu, người ta không chỉ nhớ về một Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân mà còn nhớ về một con người đã sống trọn vẹn với nghề thầy thuốc, với Tổ quốc và với đồng đội.

Bác sĩ Tạ Lưu (sinh 1931, Bắc Ninh) nhập ngũ từ năm 16 tuổi, tham gia chiến dịch Trung - Hạ Lào và công tác tại Viện Quân y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108).

Năm 1965, ông làm Đội phó Đội điều trị 14 trên tuyến lửa Trường Sơn, kiên cường phẫu thuật giữa bom đạn, cứu sống hàng nghìn thương binh và sáng tạo nhiều kỹ thuật y khoa trong điều kiện cực kỳ thiếu thốn.

Năm 1969, ông được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1970, ông ra Bắc học phẫu thuật cao cấp tại Bệnh viện Việt Đức dưới sự hướng dẫn của GS Tôn Thất Tùng và học sau đại học tại Học viện Quân y Kirov (Liên Xô).

Trở về nước, ông lần lượt làm Chủ nhiệm Khoa Ngoại, Viện phó rồi Viện trưởng Viện Quân y 110 (nay là Bệnh viện Quân y 110). Năm 1993, Đại tá Tạ Lưu nghỉ hưu theo chế độ, dành trọn cuộc đời là tấm gương sáng về y đức.