Trụ cột của chăm sóc sức khỏe toàn diện
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn, nếu điều trị là giúp người bệnh vượt qua giai đoạn nguy kịch thì PHCN giúp con người quay trở lại với cuộc sống. Đó không chỉ là phục hồi vận động hay chức năng sinh học mà là phục hồi khả năng lao động, khả năng giao tiếp, khả năng tự chủ, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Trong bối cảnh dân số già hóa nhanh, bệnh không lây nhiễm gia tăng, hậu quả của tai biến, chấn thương, bệnh mạn tính ngày càng lớn thì PHCN không còn là một lĩnh vực bổ trợ, mà đã trở thành nhu cầu thiết yếu của toàn xã hội. Ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời, bất kỳ người dân nào cũng có thể cần đến PHCN. Vì vậy, phát triển PHCN không chỉ là yêu cầu chuyên môn mà là thước đo trình độ phát triển, tính nhân văn của một hệ thống y tế.
 |
Bệnh nhân tập phục hồi chức năng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
|
Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách giúp nâng cao hiệu quả công tác điều trị và chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh.
Quyết định số 569/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (ban hành năm 2023 phê duyệt Chương trình phát triển hệ thống PHCN giai đoạn 2023-2030, tầm nhìn đến năm 2050) đã xác lập một chương trình mang tính chiến lược, đặt PHCN vào đúng vị trí trong hệ thống y tế hoàn chỉnh, với định hướng phát triển dài hạn, đồng bộ, liên thông từ Trung ương đến cơ sở, từ y tế chuyên sâu đến PHCN dựa vào cộng đồng.
Đây cũng được coi là nền tảng pháp lý quan trọng nhất của ngành PHCN trong nhiều năm qua, xác định rõ vai trò của PHCN như một cấu phần thiết yếu của hệ thống y tế thay vì được coi là lĩnh vực hỗ trợ bổ sung như trước đây. Chương trình đặt mục tiêu xây dựng một mạng lưới PHCN toàn diện, liên tục, tiếp cận rộng khắp, công bằng cho mọi người dân, đặc biệt là người khuyết tật, người sau bệnh nặng, người sau phẫu thuật, trẻ em có nguy cơ rối loạn phát triển.
Sau hơn hai năm triển khai, với sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương và toàn hệ thống y tế, công tác PHCN đã có những chuyển biến tích cực. Thể chế từng bước hoàn thiện, mạng lưới PHCN được củng cố, các hướng dẫn chuyên môn được ban hành, các mô hình PHCN dựa vào cộng đồng được duy trì và mở rộng, nhận thức của xã hội về vai trò của PHCN ngày càng rõ nét hơn.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn cũng nhận định, thực tiễn cho thấy PHCN vẫn đang là một lĩnh vực khó, đòi hỏi đầu tư dài hạn, phối hợp liên ngành và quyết tâm chính trị cao. Những khó khăn về nguồn nhân lực chuyên sâu, cơ sở vật chất, thiết bị, cơ chế tài chính, sự liên thông giữa các cấp, sự gắn kết giữa y tế và an sinh xã hội vẫn đang là những điểm nghẽn cần được nhìn nhận thẳng thắn và xử lý một cách căn cơ.
Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nâng tầm phát triển PHCN từ chương trình chuyên ngành thành yêu cầu mang tính chiến lược của toàn hệ thống y tế. Nghị quyết 72 đã đặt ra yêu cầu rất rõ ràng đối với toàn ngành y tế đó là bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo hướng toàn diện, liên tục, lấy người dân làm trung tâm, đặc biệt chú trọng chăm sóc dài hạn, quản lý bệnh mạn tính, người cao tuổi và các nhóm dễ bị tổn thương.
PHCN chính là một trong những trụ cột để hiện thực hóa yêu cầu đó. Không có hệ thống PHCN mạnh thì không thể có chăm sóc sức khỏe toàn diện. Không có PHCN hiệu quả thì thành tựu điều trị sẽ không được chuyển hóa đầy đủ thành chất lượng sống cho người dân.
Mở rộng tiếp cận, định hướng phát triển lâu dài, bền vững
Theo ông Vương Ánh Dương, Phó cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), dữ liệu người khuyết tật được cập nhật từ tuyến xã, kết nối đồng bộ với Trung ương giúp quản lý hiệu quả 914.302 người khuyết tật trên toàn quốc. Một số địa phương đã thí điểm PHCN từ xa, hỗ trợ người bệnh vùng khó tiếp cận dịch vụ, duy trì tập luyện tại nhà và nhận tư vấn trực tuyến.
Mô hình này giảm áp lực di chuyển, tiết kiệm chi phí, thời gian; đồng thời nâng cao khả năng theo dõi tiến trình phục hồi và lập kế hoạch phát triển mạng lưới bền vững. Nhóm can thiệp sớm cũng ghi nhận quy mô chưa từng có: Hơn 667.000 phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh, gần 70% tổng số thai kỳ dự kiến; hơn 551.000 trẻ sơ sinh được sàng lọc, tạo nền tảng phát hiện và can thiệp khuyết tật kịp thời.
Mô hình PHCN dựa vào cộng đồng tiếp tục ổn định ngay cả khi có biến động hành chính. Trước sáp nhập cấp xã, chương trình đã triển khai tại 39 tỉnh, nhiều địa phương vẫn duy trì mạng lưới 100% xã, phường sau sáp nhập, và hoạt động không đứt gãy cho thấy PHCN đã “ăn sâu” vào hệ thống cơ sở.
Cũng theo Phó cục trưởng Vương Ánh Dương, trước nhu cầu rất lớn về PHCN của người dân hiện nay, Bộ Y tế đã xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình năm 2026 để từng bước mở rộng phạm vi chuyên môn PHCN đối với một số chức danh y tế phù hợp, trên cơ sở đặc thù của PHCN là lĩnh vực đa ngành, đa lĩnh vực, đặc biệt đối với bác sĩ đa khoa, điều dưỡng đa khoa đã được đào tạo và có năng lực thực hiện các nội dung PHCN cơ bản.
Việc làm rõ phạm vi chuyên môn PHCN cơ bản đối với các chức danh này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở y tế, nhất là tuyến y tế cơ sở, triển khai hiệu quả PHCN dựa vào cộng đồng, bảo đảm tính liên tục trong chăm sóc người bệnh, phù hợp với điều kiện thực tiễn về nhân lực tại địa phương.
Khi nhân lực PHCN được đào tạo, cơ sở vật chất được đầu tư đầy đủ, các điểm nghẽn về chính sách được giải quyết sẽ đưa PHCN trở thành trụ cột chăm sóc sức khỏe dài hạn, mở ra hướng phát triển bền vững trong chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn tới, nhất là trong bối cảnh dân số nước ta đang già hóa, cùng với gánh nặng về bệnh mạn tính đang ngày một gia tăng.