Rút ngắn khoảng cách trong điều trị

Cuối tháng 1-2026, nhóm “Bệnh viện liên kết” của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 nhận đề nghị hỗ trợ từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh về bệnh nhân T.T.H., 74 tuổi, được chẩn đoán tai biến mạch máu não, nghi ngờ tắc mạch máu lớn trên nền tăng huyết áp. Theo Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, sau khi các chuyên gia trao đổi, thống nhất phương án, chỉ 26 phút sau tiếp nhận, người bệnh đã được đưa vào phòng can thiệp, thông tắc mạch thành công.

Trường hợp trên cho thấy giá trị của sự phối hợp giữa các cơ sở y tế. Thông tin đến sớm giúp nơi tiếp nhận chủ động chuẩn bị nhân lực, thiết bị và phương án xử trí. Khi từng khâu được kết nối, thời gian chờ đợi giảm xuống, người bệnh có thêm cơ hội được điều trị kịp thời.

 

 Quang cảnh Hội nghị Khoa học Đột quỵ Việt Nam năm 2026.

Đây cũng là vấn đề được GS, TS, Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Văn Thông, Chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, quan tâm trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Khoa học Đột quỵ Việt Nam năm 2026. Ông cho biết, những tiến bộ về chẩn đoán hình ảnh, điều trị tiêu sợi huyết, can thiệp nội mạch, hồi sức thần kinh và phục hồi chức năng đã mở rộng cơ hội điều trị. Tuy nhiên, việc phát hiện sớm, vận chuyển kịp thời, tiếp cận kỹ thuật hiện đại và chăm sóc toàn diện sau đột quỵ vẫn chưa đồng đều giữa các tuyến, các khu vực.

Khoảng cách ấy đặt ra yêu cầu phát triển chuyên ngành gắn với khả năng đáp ứng của cả mạng lưới. Một trung tâm có kỹ thuật tốt cần sự phối hợp hiệu quả của cơ sở chuyển đến; một bệnh viện địa phương cần được hỗ trợ thường xuyên để nâng cao năng lực. Trong quá trình đó, tổ chức nghề nghiệp giữ vai trò kết nối đội ngũ, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy hợp tác.

Ngày 25-12-2008, Hội Phòng, chống Tai biến mạch máu não Việt Nam được thành lập. Tại Đại hội lần thứ nhất, tổ chức ngày 28-2-2009, GS, TS Lê Văn Thành, người sáng lập Hội, được bầu làm Chủ tịch. Trong nhiệm kỳ đầu, Hội tổ chức 4 hội nghị khoa học chuyên ngành đột quỵ toàn quốc, triển khai hoạt động đào tạo, giảng dạy và điều trị tại nhiều bệnh viện lớn.

Năm 2016, Hội đổi tên thành Hội Đột quỵ Việt Nam; GS, TS Nguyễn Văn Thông được bầu làm Chủ tịch nhiệm kỳ 2016-2021 và tiếp tục đảm nhiệm cương vị này trong nhiệm kỳ 2021-2026. Qua các nhiệm kỳ, Hội từng bước mở rộng tổ chức, quy tụ hàng trăm bác sĩ, nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực thần kinh, đột quỵ.

Sự ra đời của các chi hội, hội thành viên tạo thêm điều kiện trao đổi chuyên môn tại địa phương. Thông qua hội nghị khoa học, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật, các phương pháp điều trị được cập nhật, chia sẻ; kinh nghiệm từ những trung tâm lớn được đưa đến cơ sở. Hoạt động này góp phần phát triển mạng lưới cấp cứu, điều trị đột quỵ và thúc đẩy chuẩn hóa chất lượng chuyên môn.

Theo GS, TS Nguyễn Văn Thông, kết quả đó là sự đóng góp bền bỉ của nhiều thế hệ lãnh đạo, chuyên gia và hội viên. Việc tập hợp trí tuệ của đội ngũ thầy thuốc cần tiếp tục gắn với nghiên cứu, đào tạo và hợp tác quốc tế, đáp ứng những yêu cầu mới trong dự phòng, chẩn đoán, điều trị đột quỵ.

 
 Các báo cáo viên trình bày tại hội nghị.

Lấy khả năng phục hồi của người bệnh làm thước đo

Từng giữ cương vị Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, GS, TS Nguyễn Văn Thông có nhiều năm gắn bó với điều trị, nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành. Từ thực tiễn lâm sàng, ông chú trọng kiểm soát yếu tố nguy cơ, phòng ngừa tái phát và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Quan điểm ấy cũng xuyên suốt hoạt động giảng dạy, chuyển giao kinh nghiệm của ông.

Ông đã hướng dẫn 17 nghiên cứu sinh, học viên cao học; có hơn 90 bài báo khoa học về đột quỵ, bệnh lý mạch máu não và thần kinh; chủ biên, tham gia biên soạn 16 cuốn sách chuyên khảo, tham khảo và giáo trình. Cùng với nghiên cứu, ông tham gia đào tạo, chuyển giao kỹ thuật điều trị đột quỵ cho nhiều bệnh viện tuyến dưới, trong đó có Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ.

Đằng sau những công trình và khóa đào tạo là yêu cầu đưa tri thức vào thực hành. Kỹ thuật được chuyển giao cần có đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận, quy trình phù hợp và sự hỗ trợ chuyên môn liên tục. Kinh nghiệm của người thầy phải trở thành khả năng xử trí của bác sĩ tại cơ sở, phục vụ trực tiếp người bệnh.

Nhìn về giai đoạn tiếp theo, GS, TS Nguyễn Văn Thông nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển mạng lưới cấp cứu, điều trị đột quỵ, chuẩn hóa quy trình, nâng cao chất lượng nhân lực và phối hợp giữa các tuyến. Theo ông, dự phòng trong cộng đồng cũng cần được đẩy mạnh, song hành với đầu tư cho điều trị chuyên sâu.

Các nội dung của Hội nghị Khoa học Đột quỵ Việt Nam năm 2026 thể hiện rõ hướng tiếp cận này: Từ điều trị tái tưới máu, can thiệp nội mạch, chẩn đoán hình ảnh đến dự phòng, hồi sức và phục hồi chức năng. Việc kết nối chuỗi cấp cứu từ cộng đồng đến bệnh viện, cá thể hóa điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc sau đột quỵ được dành sự quan tâm.

Đó là những vấn đề sát với nhu cầu thực tế. Người bệnh cần được phát hiện, đưa đến cơ sở phù hợp và tiếp nhận kịp thời; sau điều trị cấp tính, họ vẫn cần chăm sóc, phục hồi và dự phòng tái phát. Bởi vậy, chất lượng chuyên môn phải được nhìn nhận trong toàn bộ quá trình, thay vì chỉ ở một kỹ thuật hay một thời điểm điều trị.

Với Hội Đột quỵ Việt Nam, tổng kết nhiệm kỳ 2021-2026 và kiện toàn tổ chức nhiệm kỳ 2026-2031 là dịp xác định trọng tâm để hoạt động đi vào chiều sâu. Cùng với duy trì trao đổi học thuật, cần tăng hiệu quả đào tạo, hỗ trợ cơ sở, phổ biến kiến thức cho cộng đồng, giúp người dân nhận biết sớm dấu hiệu bệnh và chủ động kiểm soát nguy cơ.

GS, TS Nguyễn Văn Thông nhấn mạnh, sự phát triển của chuyên ngành phải được đánh giá bằng khả năng cứu sống người bệnh, giảm di chứng và giúp họ trở lại cuộc sống. Từ nền tảng đã xây dựng, tiếp tục nối liền các khâu dự phòng, cấp cứu, điều trị và phục hồi chính là cách để những nỗ lực của đội ngũ thầy thuốc mang lại lợi ích thiết thực hơn cho người dân.