Đào tạo lao động

Thị trường lao động Việt Nam sẽ như thế nào khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO hiện đang là vấn đề quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn là nỗi lo của cả doanh nghiệp và người lao động. Khả năng thích ứng với môi trường mới sẽ quyết định sự tồn tại của bản thân người lao động. Đây chính là cơ hội nhưng cũng là sự thách thức buộc người lao động nước ta phải có những thay đổi bắt đầu từ nhận thức…

Nhân công rẻ không còn là lợi thế

Từ trước đến nay nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng thị trường lao động nước ta phong phú, nhân công rẻ nên có thể đáp ứng được các nhu cầu của thị trường. Điều đó được minh chứng bằng việc lao động đang đổ dồn về các khu công nghiệp như Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và nguồn lao động đi xuất khẩu ở các thị trường như Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Nhật Bản. Lao động chuyển dịch từ khu vực nông thôn ra thành thị, ra nước ngoài thể hiện sự điều tiết mang tính thị trường. Mặc dù mức lương của người lao động ở các khu công nghiệp còn ở mức trung bình song đa phần công nhân vẫn chấp nhận để tồn tại. Ngành nghề chủ yếu tuyển dụng các đối tượng lao động này vào làm việc là da giày, dệt may, chế biến thủy sản. Một số ngành có mức lương cao nhưng đòi hỏi người lao động phải có trình độ tay nghề cao, nhất là các ngành thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ. Do đó việc nâng cao chất lượng người lao động chính là một trong những yếu tố để người lao động có thể thích nghi với môi trường mới, nhất là trong tình hình hiện nay các quốc gia như Trung Quốc, Phi-líp-pin cũng đang lấy giá nhân công rẻ để cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế. Một bộ phận người lao động cả trong và ngoài nước chủ yếu còn làm việc theo kiểu cầm tay chỉ việc mà chưa tự phát huy tính sáng tạo, chủ động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp và theo kế hoạch thì tính đến năm 2010 cả nước cũng mới phấn đấu để có 26% lao động qua đào tạo nghề, quy mô tuyển sinh đào tạo nghề đạt khoảng 1,5 triệu người, trong đó tuyển sinh đào tạo trung cấp và cao đẳng nghề đạt khoảng 27% tổng quy mô đào tạo nghề. Đây cũng chính là một trong những hạn chế, gây khó khăn cho việc hội nhập và phát triển thị trường lao động nước ta. Phải thừa nhận gia nhập WTO, người lao động nước ta sẽ có thêm cơ hội việc làm, mức lương mới tuy nhiên đây cũng là quá trình chọn lọc, đào thải những người không có tay nghề. Vì vậy cơ hội có việc làm luôn đi kèm cơ hội mất việc do không thích ứng được yêu cầu.

Cần có cơ chế, chính sách phù hợp

Để thị trường lao động phát triển đúng hướng, ngoài việc nâng cao chất lượng cho người lao động thì rất cần hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách làm cơ sở cho việc tạo nguồn lao động. Đó là các chính sách trong việc quản lý, đào tạo nguồn nhân lực, chính sách tuyển dụng, dạy nghề và tạo việc làm. Trên thực tế hiện nay nhiều lao động nước ta còn thiếu thông tin về Luật Lao động, chế độ tiền lương và an sinh xã hội. Có tình trạng người lao động làm việc hàng năm trời mà không được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động hay trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Đến khi có tai nạn xảy ra người lao động chính là người chịu thiệt thòi. Vì vậy, trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, điều chỉnh các văn bản pháp luật, nhất là về quan hệ lao động, tuyển dụng, chế độ tiền lương… cho phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của WTO là không phân biệt, đối xử, minh bạch.

Việc mở rộng thương mại chính là cơ hội tốt nhất để Việt Nam tiếp cận và phát triển thị trường lao động theo đúng hướng. Tuy nhiên, đối với những tồn tại của thị trường lao động nước ta hiện nay đòi hỏi người lao động và cả các doanh nghiệp cần có một chiến lược phát triển phù hợp. Việc xuất khẩu hàng chục nghìn lao động mỗi năm, thu về hơn 1,5 tỷ ngoại tệ là một tín hiệu đáng mừng song để người lao động có thêm thu nhập và thu nhập cao ở thị trường trong nước khi gia nhập WTO vẫn đang còn là thách thức lớn.

THUỲ LINH