Cụ thể, Bộ Quốc phòng đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị định số 151/2016/NĐ-CP ngày 11-11-2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều về chế độ, chính sách của Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng như sau:
1. Tiền lương tháng để tính hưởng chế độ:
a) Tiền lương tháng để tính hưởng các chế độ trợ cấp quy định tại Nghị định này là tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước thời điểm nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành, thôi việc, nghỉ theo chế độ bệnh binh, hy sinh, từ trần hoặc tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng gần nhất trước thời điểm nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành, nghỉ theo chế độ bệnh binh, hy sinh, từ trần (đối với trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau, thai sản; sau thời gian mất tin, mất tích được toà án tuyên bố chết) và được quy đổi theo chế độ tiền lương tại thời điểm nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành, nghỉ theo chế độ bệnh binh, hy sinh, từ trần;
b) Tiền lương tháng để tính hưởng các chế độ trợ cấp quy định tại điểm a khoản này bao gồm: Tiền lương theo loại, nhóm, bậc đối với quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; nhóm, ngạch, bậc đối với viên chức quốc phòng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).
 |
| Thực hành huấn luyện Tổ đài VISAT ở Lữ đoàn 23, Quân khu 7. Ảnh minh họa: qdnd.vn |
2. Thời gian công tác để tính hưởng chế độ:
a) Thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để tính hưởng trợ cấp một lần (do nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm, phục viên, hy sinh, từ trần) là tổng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (trừ thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chế độ bảo hiểm xã hội một lần), gồm: Thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong Quân đội nhân dân (thời gian là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng), thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong Công an nhân dân (thời gian là sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ; công nhân công an), thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong lực lượng Cơ yếu và thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cấp xã;
b) Thời gian công tác để quy đổi hưởng chế độ trợ cấp một lần khi thôi phục vụ tại ngũ hoặc khi hy sinh, từ trần quy định tại Nghị định này là tổng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong Quân đội (trừ thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chế độ bảo hiểm xã hội một lần) trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc công tác ở địa bàn khó khăn, ngành nghề có tính chất đặc thù, gồm: Thời gian là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng;
c) Trường hợp thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thời gian tăng thêm do quy đổi và thời gian nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm quy định tại Nghị định này nếu có số tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: Từ 1 tháng đến đủ 6 tháng tính là 0,5 năm và được hưởng trợ cấp bằng mức trợ cấp của 0,5 năm; từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 1 năm.
Như vậy, so với quy định hiện hành, đề xuất này thay đổi cách tính tiền lương tháng để tính hưởng các chế độ trợ cấp đối với quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng bằng cách gộp hai cách tính tiền lương (bình quân của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu, lương tháng tính đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề) thành lương tháng tính đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề. Ngoài ra, thời gian công tác để tính hưởng chế độ cũng cụ thể hơn.
Theo Bộ Quốc phòng, dự thảo đã kế thừa; đồng thời, sửa đổi, theo hướng liên thông và tích hợp về cách xác định tiền lương và thời gian công tác để tính hưởng chế độ trợ cấp giữa các văn bản pháp luật hiện hành, tránh cách hiểu khác nhau, thuận lợi trong thực hiện; bảo đảm tương đồng, thống nhất với cách xác định tiền lương và thời gian công tác để tính hưởng chế độ theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.
Theo quy định tại Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất của quân nhân chuyên nghiệp theo cấp bậc quân hàm như sau: Cấp uý quân nhân chuyên nghiệp đối với nam là 52 tuổi, nữ là 52 tuổi; Thiếu tá, Trung tá quân nhân chuyên nghiệp là 54 tuổi; Thượng tá quân nhân chuyên nghiệp đối với nam là 56 tuổi, nữ là 55 tuổi.
Đối với công nhân và viên chức quốc phòng được nghỉ hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; có đủ 15 năm là công nhân quốc phòng và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi; trường hợp công nhân và viên chức quốc phòng chưa đủ điều kiện nghỉ hưu quy định nêu trên, do thay đổi tổ chức biên chế mà Quân đội không còn nhu cầu bố trí sử dụng, nếu nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được nghỉ hưu.
Bộ Quốc phòng đang xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 Nghị định của Chính phủ về chế độ trợ cấp một lần khi thôi phục vụ trong Quân đội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Các ý kiến tham gia, đóng góp gửi về Bộ Quốc phòng qua email: info@mod.gov.vn trước ngày 18-4-2026.
Báo Quân đội nhân dân sẽ tiếp tục thông tin về Dự thảo Nghị định này.