Nỗi day dứt chưa nguôi

Chúng tôi tìm đến cựu du kích Lê Quốc Thạnh, 71 tuổi, ở thôn Lệ Xuyên, xã Nam Cửa Việt. Dọc theo Tỉnh lộ 580 xuyên qua ngôi làng yên bình, xen giữa những ngôi nhà mới và cánh đồng xanh vẫn còn những bụi cây trâm bầu cằn cỗi bám chặt trên nền cát trắng loang lổ. Chúng lặng lẽ đứng đó như những chứng nhân của một thời lửa đạn, từng tán lá nhỏ bé ấy đã che giấu cán bộ, bộ đội và biết bao sinh mạng sau những trận đánh ác liệt.

Nhà ông Thạnh nằm sâu trong một con ngõ nhỏ. Ngồi dưới mái hiên nhìn ra khoảng sân chiều mưa lất phất, người cựu du kích chậm rãi đưa tay chỉ một vòng quanh xóm. Giọng ông trầm xuống: “Quanh nhà tôi bây giờ yên bình vậy thôi, chứ trước đây là chiến địa nảy lửa. Bom đạn cày xới suốt mười mấy năm, ngày nào cũng có người ngã xuống”.

Chiến trường Triệu Trạch năm xưa giờ đã khoác lên mình diện mạo mới. Những khu dân cư nối tiếp nhau, công trình công cộng mọc lên, những con đường nhựa phẳng lì vươn ra tận các đồi cát. Khó ai có thể hình dung rằng, ngay dưới những bước chân hôm nay là lớp lớp dấu tích của một chiến trường từng hứng chịu mưa bom bão đạn, nơi biết bao người lính đã ngã xuống.

 Nghĩa trang Liệt sĩ Triệu Trạch.

Chúng tôi đi vòng vèo qua những con đường dẫn sâu vào từng xóm nhỏ, lặng lẽ bước trên những triền cát, nghe các cựu chiến binh chỉ từng vị trí chốt cũ, giao thông hào, hố bom... Mỗi địa danh được nhắc lại như đánh thức một phần ký ức tưởng đã ngủ yên. Trên vùng đất đang đổi thay từng ngày, quá khứ vẫn hiện hữu, lặng lẽ nằm dưới những tầng cát và trong ký ức của những người còn sống.

Dừng lại bên “chốt thép” Long Quang, ông Thạnh kể: Từ tháng 6-1972, Mỹ - ngụy huy động lực lượng tinh nhuệ cùng nhiều phương tiện, vũ khí hiện đại mở cuộc hành quân mang tên “Lam Sơn 72” nhằm tái chiếm Quảng Trị. Trong chiến dịch này, khu vực Long Quang trở thành một trong những trận địa phòng ngự đặc biệt quan trọng ở cánh Đông của mặt trận Quảng Trị. Quân và dân địa phương đã kiên cường bám trụ, giữ vững trận địa cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973.

Đối phương đã sử dụng hỏa lực với cường độ đặc biệt lớn. Theo tài liệu, có tới 132 phi vụ máy bay B-52 cùng hàng nghìn lượt máy bay chiến thuật, pháo hạm và pháo mặt đất liên tục oanh kích các vị trí phòng ngự. Riêng ngày 18-11-1972, khu vực này phải hứng chịu tới 18 đợt ném bom B-52, biến nhiều cồn cát và trận địa thành biển lửa.

Tại chốt thép Long Quang, Sư đoàn 320B và bộ đội địa phương đã bẻ gãy các cuộc phản kích của địch. Quá trình chốt giữ, chỉ tính riêng lực lượng du kích Triệu Trạch đã tổ chức 84 trận đánh lớn nhỏ, diệt 637 tên địch, bắn cháy và phá hủy 17 xe tăng, phối hợp với bộ đội chủ lực bắn rơi 3 máy bay. Trận chiến đấu cuối cùng vào ngày 18-3-1975, lực lượng du kích Triệu Trạch nghi binh, xuất kích quét sạch quân ngụy trên tuyến chốt, giải phóng phần đất còn lại của xã, bắt sống 1 trung đội quân ngụy.

Với ông Thạnh, ký ức về “chốt thép” Long Quang không chỉ là những chiến công hay những trận đánh ác liệt. Điều ông đau đáu nhất sau hơn nửa thế kỷ vẫn là hình ảnh nhiều đồng đội đã ngã xuống trên chính mảnh đất quê hương nhưng đến nay vẫn chưa được xác định. Mỗi lần đi ngang, ông vẫn mong một ngày những người lính ấy sẽ được trở về với đất mẹ trong sự tri ân trọn vẹn của hậu thế.

Cách “chốt thép” Long Quang không xa là Nghĩa trang Liệt sĩ Triệu Trạch. Khu nghĩa trang khang trang, xanh mát và tĩnh lặng, nơi 670 phần mộ liệt sĩ đang yên nghỉ dưới những hàng cây. Giữa vùng quê ven biển bình yên hôm nay, khó có thể hình dung nơi đây từng là một trong những chiến trường khốc liệt bậc nhất. Tại Quảng Trị, hiếm có một đơn vị cấp xã nào lại quy tập số lượng hài cốt liệt sĩ lớn như Triệu Trạch trước đây. Mỗi ngôi mộ là một câu chuyện chưa kể, mỗi tấm bia là một lát cắt của lịch sử vẫn còn âm vang qua nhiều thế hệ.

Đó không chỉ là những tấm bia ghi dấu chiến công mà còn là lời nhắc nhở hậu thế về một giai đoạn lịch sử khốc liệt từng diễn ra trên mảnh đất này. Thế nhưng, giữa Nghĩa trang Liệt sĩ Triệu Trạch, nỗi day dứt vẫn hiện hữu khi gần một nửa phần mộ vẫn mang dòng chữ “Chưa xác định được thông tin”. Phần lớn liệt sĩ đều đến từ những tỉnh, thành phố phía Bắc vĩ tuyến 17, theo tiếng gọi của Tổ quốc vào chiến trường Quảng Trị, rồi đến bây giờ vẫn đang còn nằm lại nơi đây.

Mong đưa các anh vào nghĩa trang liệt sĩ

Trời đổ bóng chiều bàng bạc. Những cơn mưa dông bất chợt quấn vào ngọn gió Lào khô khốc, lắc rắc trên tán cây đa xanh mướt rồi lặng lẽ rơi xuống, thấm loang trên từng tấm bia mộ đã ngả màu thời gian. Những giọt nước chảy dài qua những dòng chữ đã mờ khiến không gian nghĩa trang càng thêm trầm mặc. Cả 3 chúng tôi lên xe định quay về, nhưng vừa đi một đoạn, ông Thạnh bỗng nhớ lại chi tiết, cách đây vài hôm, có một cựu chiến binh từng là chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn K8 từ Thanh Hóa vào báo tin: Năm 1967, ông đã trực tiếp mai táng 3 đồng đội hy sinh tại rìa làng Long Quang.

Theo chỉ dẫn của ông Thạnh, chúng tôi tìm đến vị trí cách đây 59 năm người cựu chiến binh Tiểu đoàn K8 đã vội vàng mai táng 3 thi hài dưới làn đạn rền đặc như mưa của địch. Nằm lẫn giữa nghĩa địa nhân dân là một hố lõm rộng khoảng 20m2, được đánh dấu tự nhiên bởi bụi tre, thuộc xóm Trong, làng Long Quang, cách Tỉnh lộ 580 chừng 200m. Bỗng một cơn mưa rào lướt qua, chúng tôi nhanh chóng ra về. Chúng tôi đã kết nối được qua điện thoại với người cựu chiến binh đó, ông là Lê Trọng Tựa, sinh năm 1948, ngụ tại phường Hải Bình, tỉnh Thanh Hóa; tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị từ năm 18 tuổi, chức vụ Tiểu đội trưởng. Hiện nay ông là Phó chủ tịch Hội Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tỉnh Thanh Hóa.

Ông Lê Quốc Thạnh chỉ vị trí có thể là nơi an táng 3 liệt sĩ.  

Ông Tựa cho biết: "Tôi đã 78 tuổi, sức khỏe không được tốt do từng bị địch bắt, tra tấn, tù đày từ Đà Nẵng ra đến Côn Đảo, về Gia Lai gần hết quãng đời thanh xuân. Nhưng sự kiện mai táng 3 đồng đội tại làng Long Quang tôi không thể nào quên được. Vừa qua “Chiến dịch 500 ngày đêm” được phát động, tôi đã vào tận nơi để tìm lại vị trí ấy".

Ngược dòng ký ức, đó là ngày 4-4-1967, lúc đó ông Tựa là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1, Trung đội 1, Đại đội 1, Tiểu đoàn K8, đơn vị tiến đánh giải phóng làng An Tiêm, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong (nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Hai ngày sau đơn vị rút về làng Long Quang. Tiểu đội của ông Tựa phòng ngự trong đội hình đơn vị phía Đông Bắc, triền đất cát giáp biển. Từ buổi trưa, địch huy động lính nhảy dù, xe tăng, bộ binh, trực thăng yểm trợ càn quét dữ dội; phía ta chỉ có một ít súng bộ binh và vũ khí thu được của đối phương. Ông Tựa nhớ rõ có 8 máy bay, trong đó có 2 trực thăng, hai chiếc L-19 và 2 máy bay phản lực, chúng oanh tạc khủng khiếp.

Đến khoảng 15 giờ, chiến sĩ liên lạc của đại đội bò đến hầm của ông Tựa truyền lệnh: “Đồng chí Tựa giao tiểu đội lại cho một người khác phụ trách, rồi đi kèm cùng hai đồng chí khác về ban chỉ huy đại đội nhận nhiệm vụ mới”. Trong thâm tâm, ông Tựa nghĩ, tình hình thế này thì khi ra khỏi hầm chắc chắn sẽ hy sinh. Nhưng rất may, sau khoảng một giờ đồng hồ bò, trườn, ông đã đến được vị trí giữa làng Long Quang. Tại đây, đồng chí Giảng, Chính trị viên đại đội giao nhiệm vụ: “Đồng chí đến căn hầm tránh pháo nhà bà Thuấn, hiện ở đó có 3 đồng chí cán bộ thuộc Trung đội 3 đã hy sinh. Đồng chí đào tìm bằng được rồi đưa về đồi cát phía sau làng Long Quang mai táng, xong việc đồng chí tự tìm đường về đơn vị”.

Ông Lê Quốc Thạnh cho biết: Bà Lê Thị Thuấn ở xóm Khe, làng Lệ Xuyên. Gia đình bà có quán tạp hóa nhỏ, bộ đội hành quân về thường xuyên ghé chân, sau trở thành một căn cứ nuôi giấu cán bộ cách mạng nổi tiếng tại Quảng Trị. Nay bà Thuấn đã qua đời.

Trở lại câu chuyện ngày 4-4-1967, Chính trị viên Giảng giao cho ông Tựa 8m vải trắng, cử thêm hai đồng chí cùng đi. Để đến được nhà bà Thuấn phải băng qua mấy vạt ruộng lúa trống trải, lúc này mới khoảng 16-17 giờ, nếu bị lộ sẽ bị địch tiêu diệt ngay. Mãi đến chạng vạng tối, cả 3 người mới tiếp cận được căn hầm, đào bới một lúc đã lấy được 3 thi thể. Ông Tựa nhận diện được anh Nghị, Trung đội trưởng Trung đội 3 (quê ở Nghệ An), anh Đức, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 7 (quê ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa) và anh Cương, quân nhân thuộc Trung đội 3 (quê ở Hà Tĩnh).

Thế là mỗi người vác một thi thể, trong tình thế địch ráo riết bắn phá, đoạn đường vài trăm mét nhưng cơ động mất mấy tiếng đồng hồ. Ông Tựa nhớ lại: “Chúng tôi vừa đi vừa chạy, vừa bò, tuyệt đối giữ bí mật. Có lúc ôm lấy thi thể đồng đội nằm im chờ dứt loạt bom địch giội xuống. Nguy nan là thế nhưng không thể bỏ đồng đội”.

Sau khi tìm kiếm, cân nhắc, các ông chọn địa điểm mai táng đồng đội là một trảng cát trũng hơn xung quanh. Theo kinh nghiệm của ông Tựa, mai táng ở điểm trũng này nhằm hạn chế nguy cơ hài cốt bị “trôi” mất, hy vọng sau này có cơ hội trở lại tìm kiếm. Để bảo đảm bí mật, cả 3 người vừa nằm vừa đào huyệt, độ sâu khoảng 50cm. Trong số 8m vải trắng phải dành phần lớn cho một đồng chí bị mảnh bom cắt mất phần đỉnh đầu xuống tận mang tai.

Khi chúng tôi cùng ông Thạnh và ông Nguyễn Xuân Lãnh, sinh năm 1953, người từng cùng ông Thạnh chiến đấu trên mảnh đất Triệu Trạch, tìm đến vị trí mà ông Tựa xác định trước đó, mặc dù lúc này đã rất sát khu dân cư nhưng rất may hiện trạng vẫn nguyên thổ. Tại đây, ông Thạnh lại nhớ ra một ngôi mộ mà gia đình ông hương khói mấy chục năm nay. Đó là mộ của một chiến sĩ hy sinh trong trận đánh tại Triệu Trạch trước đây, được bố ông Thạnh mai táng, giờ vẫn còn nguyên hài cốt phía dưới lớp cát dày.

Một đời chinh chiến, vượt qua biết bao lằn ranh sinh tử, điều khiến ông Lê Trọng Tựa canh cánh khi tuổi đã xế chiều không phải là những vết thương chiến tranh, mà là những đồng đội vẫn còn nằm lại dưới lòng đất Triệu Trạch xưa. Ông lặng đi ít giây rồi nói: “Tôi mong mỏi cơ quan chức năng tổ chức tìm kiếm 3 đồng đội của tôi tại Long Quang...”.

Quảng Trị những mùa hè cháy nắng, bước chân trên những triền cát trắng lún sâu khiến bàn chân bỏng rộp. Mỗi bước tiến lên lại lùi xuống nửa bước. Trên những triền cát ấy, trong những năm tháng chiến tranh, bộ đội ta đã hành quân, chiến đấu, tiến công và phòng ngự, truy kích và phản kích... Rất nhiều đồng chí đã nằm lại, thân thể vùi sâu trong cát nóng. Có thể nào tìm được tất cả các anh không?