Chuyện của cựu du kích

Cuộc trò chuyện với các cựu du kích Lê Quốc Thạnh và Nguyễn Xuân Lãnh càng kéo dài, những mảnh ghép về chiến trường Triệu Trạch năm xưa càng dần hiện rõ. Từ những sự kiện lịch sử tưởng đã bị phủ mờ theo thời gian; từng câu chuyện, địa danh, từng trận đánh dần được nhắc lại đưa chúng tôi trở về một vùng đất từng hứng chịu những trận bom đạn khốc liệt và cũng là nơi nhiều người lính đã gửi lại tuổi xuân của mình.

 Hai cựu du kích Lê Quốc Thạnh (bên trái) và Nguyễn Xuân Lãnh lật lại nhưng bút tích về chiến trường Triệu Trạch, Quảng Trị.  

Xã Triệu Trạch giáp biển, lại chỉ cách Thành cổ Quảng Trị chừng 10km, quân dân nơi đây khí phách kiên cường, đã tạo thành phòng tuyến có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với mặt trận. Do địa bàn có vị trí hết sức hiểm yếu nên địch ra sức tăng cường quân cơ động với nhiều lực lượng như lính thủy đánh bộ Mỹ, kỵ binh bay, kỵ binh thiết giáp, tổ chức nhiều cuộc càn quét lớn nhằm “xóa vành đai trắng, quy dân vào trại tập trung”. Ông Thạnh cho biết: “Đơn vị hy sinh nhiều nhất tại chiến trường Triệu Trạch là các Trung đoàn 64, Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B”. Sau giải phóng, ông Thạnh có tới 20 năm làm Chủ tịch UBND xã Triệu Trạch, có điều kiện nghiên cứu lịch sử địa phương, cũng là người trực tiếp chỉ đạo xây dựng nghĩa trang liệt sĩ xã và cất bốc, tìm kiếm, quy tập hàng trăm hài cốt liệt sĩ.

Ông Thạnh cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý giá: Ngược dòng lịch sử, năm 1930-1931, Triệu Trạch đã có những người con ưu tú được kết nạp Đảng, đó là các đồng chí: Trần Xuân Nguyên, Lê Chưởng. Trong Phong trào Đồng khởi năm 1964, Triệu Trạch là một trong 6 xã vùng dậy phá kìm đầu tiên của huyện Triệu Phong. Mở đầu bằng trận đánh lớn ngày 20-9-1964 tại thôn Linh An, du kích Triệu Trạch phối hợp với bộ đội địa phương đã bẻ gãy cuộc hành quân của một tiểu đoàn bộ binh ngụy có xe tăng thiết giáp yểm trợ. Ta đã tiêu diệt 65 tên địch, phá hủy 2 xe tăng M113, bắn cháy 1 máy bay AD-6. Đây cũng là chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi lần đầu tiên ở đồng bằng huyện Triệu Phong.

Lực lượng du kích Triệu Trạch luôn chủ động đánh địch bằng mọi vũ khí, với nhiều hình thức sáng tạo như chông mìn, cạm bẫy, đã tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm lính Mỹ, ngụy mỗi lần đến càn quét tại địa bàn xã Triệu Trạch. Có một trận đánh sáng tạo đạt hiệu quả cao, đó là năm 1967, du kích Triệu Trạch phối hợp với bộ đội địa phương lấy bom Mỹ để cài lại diệt ngụy tại cầu Bồ Bản, đã diệt gọn một đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 1 quân ngụy. Ông Thạnh nhớ lại một sáng tạo độc đáo của du kích xã Triệu Trạch là bố trí mìn tự tạo hạ được máy bay trực thăng của Mỹ. Năm 1968, tại động Chung phe 2-Linh An, du kích dùng mìn tự chế buộc vào lá cờ giải phóng cắm lên cây cao nhử máy bay trực thăng Mỹ bay qua, chúng hạ thấp xuống nhổ lá cờ thì mìn nổ tung!

Ba trận đánh, hàng trăm người ngã xuống

Cựu du kích Nguyễn Xuân Lãnh sinh năm 1953, người từng cùng ông Thạnh chiến đấu trên mảnh đất Triệu Trạch, chia sẻ: Có nhiều chuyện đã dần quên, nhưng riêng sự kiện buổi chiều tháng 2-1968 thì không thể, là ký ức theo ông suốt gần 60 năm qua. Đầu giờ chiều hôm ấy trời rét, mưa phùn, quân Mỹ tiến đánh vào phía Đông làng Lệ Xuyên từ cảng Cửa Việt (nay thuộc xã Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị). Một đại đội thuộc Sư đoàn 324 của ta trực tiếp đối đầu với quân Mỹ được trang bị tăng thiết giáp, trực thăng yểm trợ. Mặc dù bị áp đảo bất ngờ nhưng đơn vị của ta vẫn xông ra đánh giáp lá cà, súng nổ rền một góc làng, mấy chục ngôi nhà bốc cháy dữ dội.

 Ông Lê Quốc Thạnh giới thiệu với phóng viên địa hình chiến trường xưa, nơi nhiều bộ đội ta hy sinh. Ảnh: KHẮC TRÀ 

Trong trận đánh này, bộ đội hy sinh 13 người, sau đó được dân làng chôn cất tại chỗ, mãi đến năm 1989, trên cương vị Chủ tịch UBND xã, ông Thạnh chỉ đạo cất bốc và quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Triệu Trạch. Thời điểm cất bốc vẫn còn nguyên vẹn xương cốt, nhưng không tìm thấy thông tin nào về danh tính, chỉ biết được các anh là người miền Bắc, quê từ tỉnh Quảng Bình (cũ) trở ra. Theo lời ông Thạnh, khi an táng lại trong nghĩa trang vẫn có một số hài cốt chôn kèm lọ penicillin, nhưng chưa bao giờ được mở ra.

Giờ đây, biết đâu, trong những lọ thủy tinh mỏng manh ấy với một mảnh giấy đã úa màu thời gian hay vài dòng ký hiệu, có thể còn cất giữ manh mối cuối cùng về danh tính của một người lính. Chỉ một dòng chữ, một ký hiệu đơn vị hay một mẩu thông tin nhỏ cũng có thể trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa đoàn tụ đã khép kín suốt hơn nửa thế kỷ, để những người con ngã xuống không còn nằm lại trong lặng lẽ.

Nhắc đến trận Vân Tường (làng Vân Tường, xã Triệu Trạch), giọng ông Lãnh chùng xuống. Ký ức về trận đánh khốc liệt tháng 7-1967 hiện về. Khi chiến trường Triệu Trạch rực lửa, lực lượng ta đã giao chiến ác liệt với Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 1 bộ binh ngụy. Sau trận đánh, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K8 đã anh dũng hy sinh.

Ông Thạnh nhớ lại khoảnh khắc ấy, từ nhiều hướng, hỏa lực của địch bắn phá dữ dội. Trên không, trực thăng UH-1 liên tục quần thảo, yểm trợ hỏa lực khiến cánh đồng cát chìm trong khói lửa. Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều bộ đội, du kích đã ngã xuống, máu nhuộm đỏ cánh đồng, đội hình tiến công bị chia cắt giữa làn đạn dày đặc. Do không kiểm soát được trận địa nên thi thể liệt sĩ phải nằm lại trong vùng địch. Mấy ngày sau địch rút đi, dân làng mới tổ chức chôn cất. Sau ngày giải phóng, phần lớn mộ liệt sĩ đã được cất bốc, quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Triệu Trạch với tấm bia “chưa xác định được thông tin”.

Để làm rõ hơn diễn biến trận đánh tại làng Vân Tường, chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Tre sinh năm 1947, nguyên chiến sĩ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn K8, người trực tiếp tham gia trận đánh này, hiện sinh sống tại phường Kiến An, TP Hải Phòng. Ở tuổi gần 80 tuổi nhưng trong tâm trí của người lính năm xưa, những giờ phút chiến đấu tại Vân Tường vẫn là một trong những ký ức gần như vẹn nguyên.

Theo lời kể của ông Tre, khoảng 14 giờ một ngày tháng 7-1967, từ khu vực cầu Bồ Bản, địch huy động lực lượng khoảng một tiểu đoàn tổ chức càn quét vào trung tâm làng Vân Tường. Trước cuộc tấn công của địch, bộ đội ta kiên cường tổ chức đánh trả. Theo ông Tre, mặc dù gặp bất lợi về địa hình, địa vật, trận địa phòng ngự do tổ chức trong thời gian ngắn, ít công sự và vật che chắn nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường bám giữ trận địa. Trong trận đánh này, đồng chí Niệm, Chính trị viên Tiểu đoàn đã hy sinh khi một quả pháo rơi trúng vị trí chỉ huy. Dù phải đối mặt với hỏa lực áp đảo của địch nhưng ta vẫn giữ vững trận địa, gây cho chúng nhiều tổn thất. Khi trận đánh kết thúc, địch rút lui, khói súng còn cay nồng và những dấu tích nóng hổi còn lại trên chiến trường, bộ đội phối hợp với người dân tổ chức tìm kiếm, quy tập những đồng đội đã hy sinh. Nhiều thi thể được bàn giao cho người dân địa phương lo việc mai táng. Chính từ những giờ phút ấy, giữa bom đạn khốc liệt, tình quân dân như cá với nước lại được thể hiện bằng những việc làm lặng lẽ.

Dẫu vậy, cả hai cựu du kích đều chung một niềm tin rằng, giữa cánh đồng làng Vân Tường có thể vẫn còn những liệt sĩ chưa được tìm thấy. Niềm tin ấy càng được củng cố khi nhiều năm trước, trong lúc làm ruộng, một người dân địa phương tình cờ phát hiện một bộ hài cốt ngay trên cánh đồng. Tuy nhiên, ngoài trường hợp đó, khu vực này chưa từng được tổ chức tìm kiếm quy mô nào.

Còn nữa, với hai cựu du kích, trận đánh diễn ra vào một ngày tháng 12-1972 tại Triệu Trạch lại là một vết hằn sâu trong tiềm thức. Đây là trận đánh do Trung đoàn 48, đơn vị lừng danh với biệt danh “Trung đoàn Thạch Hãn anh hùng” đảm nhiệm vai trò chủ công. Trong ký ức của họ, đây không chỉ là một đơn vị thiện chiến mà còn là biểu tượng của bản lĩnh và ý chí kiên cường trên chiến trường Quảng Trị. Quy tụ nhiều đồng chí chỉ huy dày dạn trận mạc cùng những chiến sĩ gan dạ, Trung đoàn 48 đã ghi dấu bằng hàng loạt chiến công hiển hách, trở thành nỗi khiếp sợ của đối phương. Trong trí nhớ của ông Lãnh, đó là trận đánh có quy mô chưa từng có trên địa bàn. Lần đầu tiên, lực lượng ta tổ chức tới 10 mũi tiến công đồng loạt tất cả đồn bốt địch, với mục tiêu giải phóng một khu vực lớn. Hôm đó, ông Lãnh có mặt trong đội hình du kích địa phương phối hợp với một đại đội chiến đấu ở chốt số 1, áp sát đồn địch. Lực lượng ta ém quân nhiều ngày, theo kế hoạch hiệp đồng tác chiến đến giờ G, pháo binh sẽ bắn vào các khu vực địch phòng ngự, song không biết vì lý do gì, điều đó đã không xảy ra. Không thể đợi mãi được, đến 5 giờ 30 phút, chỉ huy các phân đội bộ binh ra lệnh tiến công.

Từ chốt 1, ông Lãnh chứng kiến gần như toàn bộ diễn biến của một trong những trận đánh bi thương nhất trên vùng cát trắng bời bời ven biển. Lúc này trời đã sáng hẳn, đội hình quân ta bị lộ giữa địa hình trống trải, không có pháo binh yểm trợ, bộ đội tiến lên chừng nào thì ngã xuống chừng ấy! Riêng đơn vị nơi ông Lãnh tham gia đã hy sinh 10 đồng chí, có những mũi, hướng gần như không còn ai sống sót. Số hy sinh rất nhiều. Thi thể các liệt sĩ nằm trải dài trên vùng cát trắng mênh mông. Sau giải phóng có đợt cất bốc về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Triệu Trạch, phần lớn “chưa xác định được thông tin”.

Điều day dứt nhất với hai cựu du kích không chỉ là ký ức về những trận đánh ác liệt mà còn là niềm tin rằng đâu đó giữa những trảng cát, dưới những bụi cây, bên góc xóm hay ven làng ở Long Quang, Vân Tường, Lệ Xuyên vẫn còn những hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy. Bởi vậy, các ông mong muốn thông qua bài viết này có thể kết nối thêm nhân chứng, đối chiếu tư liệu, ráp nối những mảnh ký ức còn rời rạc. Với các ông, chỉ cần có thêm một manh mối nhỏ, một lời kể hay một địa danh được xác nhận, cơ hội đưa thêm một người đồng đội trở về sẽ lại lớn hơn. Và nếu cần, các ông vẫn sẵn sàng trở thành những “hoa tiêu” trên chiến trường năm xưa, dẫn đường cho các lực lượng tìm kiếm đến những nơi chỉ còn ký ức của người lính là tấm bản đồ chính xác nhất.

Đứng trước Nghĩa trang Liệt sĩ xã Triệu Trạch với 670 phần mộ, hơn một nửa “chưa xác định được thông tin”, tôi chợt thoáng nghĩ suy, ở Triệu Trạch bây giờ, lớp người từng kinh qua khói lửa chiến tranh ngày càng ít dần, những người như ông Lãnh, ông Thạnh cũng hao mòn theo năm tháng. Rồi tôi nhìn ra những trảng cát dài ngút ngát Triệu Trạch, mấy chục năm hòa bình, dù đã phủ xanh cây cối nhưng tôi biết trong lòng cát trắng mà như đỏ, thấm máu bao người.

 (còn nữa)