"Vùng trắng"
Dốc Miếu vẫn nằm đó, bên con đường thiên lý Bắc-Nam thuở nào với rừng cao su, rừng tràm mướt tầm mắt. Những tán lá xào xạc trong gió chiều miền Trung ngỡ như tiếng thì thầm của đất trời, ru cho giấc ngủ ngàn thu của những người lính trẻ từng đi qua khói lửa chiến tranh. Dưới lớp đất bazan thẫm màu máu, cỏ cây mọc lên sinh kế ấm no, ít ai hình dung nổi từng tấc đất nơi đây đã thấm đẫm máu xương của bao thế hệ cha anh, hóa thành chứng nhân trầm mặc cho một thời kỳ đạn bom khốc liệt nhất tại mảnh đất Quảng Trị.
Từ năm 1947, thực dân Pháp đã lập đồn bốt tại Dốc Miếu. Đến năm 1954, sau Hiệp định Geneva, Dốc Miếu trở thành căn cứ lớn, chốt giữ trên Quốc lộ 1, thuộc xã Gio Phong, huyện Gio Linh (nay là xã Gio Linh), tỉnh Quảng Trị. Để ngăn chặn đường chi viện từ Bắc vào Nam, quân đội Mỹ đã cho xây dựng hàng rào điện tử McNamara gồm 12 lớp kẽm gai chồng lên nhau, cao 3m, cùng bãi vật cản nổ, thiết bị điện tử quân sự dày đặc, rộng hàng trăm mét. Khi đó, Dốc Miếu là cứ điểm quan trọng bậc nhất trong hệ thống phòng tuyến tối tân này. Ngày 16-1-1967, Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ bắt đầu triển khai lực lượng thay thế ngụy quân Sài Gòn trên các vị trí quan trọng như Cồn Tiên, Dốc Miếu, các điểm cao 31, 241... nhằm thiết lập tuyến phòng ngự cực mạnh phía Nam khu phi quân sự.
 |
Khu vực căn cứ Dốc Miếu (Quảng Trị) năm xưa, nay đã có nhiều đổi thay. Ảnh: KHẮC TRÀ
|
Để phô trương sức mạnh pháo binh, hòng áp đảo tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, địch sử dụng đòn tâm lý chiến, đêm 13, rạng sáng 14-2-1967, địch rải truyền đơn xuống khu vực Bắc Vĩ tuyến 17. Đại tá Vũ Kỳ Lân, nguyên Chính ủy đặc khu Vĩnh Linh viết trong cuốn sách “Ký sự miền đất lửa”: “Đây là loại truyền đơn mới, ảnh chụp khẩu pháo 175 ly có tên lính Mỹ đội mũ sắt ngồi trên, với câu chú thích phía sau: “Những súng đại bác cực nhanh đã bắn chưa? Chưa! Nếu đã bắn thì các bạn đâu còn đọc được truyền đơn này”. Từ 14 giờ ngày 20-3-1967, địch bắt đầu đổ khoảng 1.500 quân xuống khu vực Dốc Miếu, cùng lúc máy bay AD-6 giội bom; các trận địa pháo ở Cồn Tiên, Quán Ngang, Đông Hà đều bắn như vãi đạn xung quanh căn cứ Dốc Miếu, lập “hàng rào lửa” hòng yểm trợ cho cuộc đổ bộ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, pháo binh ta đã được dày công chuẩn bị từ trước, bắt đầu tập kích hỏa lực vào Dốc Miếu. Quân dân Vĩnh Linh-Gio Linh đã tổ chức một trận đánh quy mô và hiệu quả lớn đầu tiên: Loại khỏi vòng chiến đấu 1.070 tên địch, phá hủy 17 khẩu pháo, 5 máy bay lên thẳng, 57 xe các loại, 2 kho đạn, 1 kho xăng. Sau trận Dốc Miếu, Bộ đội Pháo binh được Bác Hồ gửi thư khen và tặng 8 chữ vàng: “Chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”. Cay cú trước những đòn đau chí mạng và chìm sâu trong nỗi hoảng sợ tột độ trước sự mưu trí, kiên cường của quân dân Quảng Trị, kẻ thù bắt đầu run rẩy ngay trên chính những "pháo đài thép" tối tân của mình. Để che giấu sự bất lực ấy, những bộ óc hiếu thắng ở Lầu Năm Góc và các cố vấn Mỹ đã lạnh lùng phác thảo một kế hoạch thâm sâu, biến toàn bộ dải đất xung quanh Dốc Miếu thành một "vùng trắng". Và ngọn lửa của sự hủy diệt đã bùng lên, biến những xóm làng bình yên thành tro bụi.
Bên cốc nước chè xanh, Đại tá Trần Lương Thanh, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Gio Linh nhớ lại trận càn bắt đầu từ lúc 4 giờ 30 phút ngày 19-5-1967, địch hành quân từ thôn Cao Xá, tràn qua thôn Xuân Hòa, xã Trung Hải (nay là xã Bến Hải). Mỗi nóc nhà có 2-3 tên lính chiếm đóng, chúng châm lửa đốt nhà buộc người dân phải sơ tán lên Tân Tường, huyện Cam Lộ (cũ). Trong cảnh tang thương nước mất nhà tan, đám thanh niên trai tráng đủ sức thì tìm đường bơi vượt sông Hiền Lương về phía Bắc Vĩ tuyến 17, còn người già, trẻ em cứ thế lũ lượt ra đi. Ông Thanh kể, trong thôn Xuân Hòa chỉ duy nhất ngôi nhà của gia đình ông không bị cháy, mẹ ông chỉ kịp vơ vội chiếc ấm nhôm đun nước rồi dắt ông đi bộ dọc Quốc lộ 1 hướng vào Đông Hà, thỉnh thoảng có toán lính địch dừng xe Jeep bế ông lên đòi chở đi nhưng mẹ ông quyết giành lại. Cả làng rừng rực lửa cháy. Ông Thanh chạy theo mẹ, còn nhớ cảm giác hơi lửa nóng rát đuổi theo sau lưng mình. Đến trưa, hai mẹ con được một người phía bên ta hướng dẫn quay lại bờ sông Hiền Lương. Tại đây có thuyền chờ sẵn đưa sang bờ Bắc. Từ hồi ức của ông Thanh, ta thấy rõ thêm một góc khuất đau thương của chiến tranh, thủ đoạn tàn khốc của kẻ thù nhằm biến vùng đệm chiến lược giữa Vĩ tuyến 17 và Dốc Miếu thành “vùng trắng” không bóng người, để che chắn và bảo vệ tối đa cho cứ điểm quân sự của chúng. Hình ảnh ngôi làng chìm trong biển lửa là minh chứng không thể xót xa của một thời kỳ mà người dân Quảng Trị phải gánh chịu.
Tiếng vọng từ trong đất
Ông Nguyễn Lai, nay đã 72 tuổi, người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ chiến tranh tại làng Lan Đình, xã Gio Phong, huyện Gio Linh, đi qua đủ trầm luân cuộc đời nhưng từng lời nói, cử chỉ từ ông còn phảng phất nỗi bàng hoàng về đêm định mệnh 29-4-1965 tại căn cứ Dốc Miếu, cách nhà ông chưa đầy một cây số. Trước đó tầm nửa tháng, bọn trẻ đồng niên lớp 3, lớp 4 trường làng như ông Lai thường truyền tai nhau ở làng Lan Đình có chuyện kỳ lạ: Trong bóng tối đen như mực, từng lùm cây thân thuộc bỗng di chuyển, lổm nhổm, có khi bất động, rồi lại tiến lên, lùi xuống. Thế nhưng vào ban ngày, lũ trẻ chăn trâu chẳng nhìn thấy gì ngoài cảnh vật quen thuộc. Rất có thể bọn trẻ đã vô tình trông thấy các phân đội trinh sát bộ đội ta ngụy trang, tiếp cận căn cứ Dốc Miếu. Họ bí mật gỡ mìn, cắt hàng rào kẽm gai để chuẩn bị cho trận đánh sắp tới. Đó là sự kiện diễn ra vào đêm 29, rạng sáng 30-4-1965. Ông Lai nhớ lại: Tầm rạng sáng không hề nghe thấy tiếng súng, nhưng một loạt tiếng nổ đanh, chát chúa kéo dài khoảng 30 phút, sau đó mọi thứ chìm vào yên ắng kỳ lạ.
Sáng hôm sau, người dân kéo đến khu vực phía sau căn cứ Dốc Miếu, giáp ranh với đồn 46. Trước mắt họ là khung cảnh đau thương tột cùng, 9 thi thể bộ đội ta nằm ngổn ngang, hiện trường còn có dây mây, đòn gánh. Sau trận này, người dân nghe nói phía Mỹ chỉ còn 1 cố vấn sống sót nhờ lọt xuống hầm phốt lộ thiên, còn phía ta-ông Lai nghe được, sau khi đánh xong rút lui bị vướng vào bãi mìn. Trong số thi thể này, ông Lai nhớ rõ 1 người cao khoảng 1m6, nước da ngăm đen, mặc quân phục, quần xắn đến đầu gối, đi dép râu. Người này bị vết thương lớn ở vùng cằm và ngực. Chi tiết khiến ông Lai không thể nào quên là trên cánh tay trái người lính này có khắc dòng chữ “NGUYỄN KIẾN”. Ngoài ra có 1 nữ chiến sĩ hy sinh trong trạng thái bị địch treo vào hàng rào, được mai táng tại chỗ, cạnh căn cứ Dốc Miếu.
 |
| Cán bộ, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đến viếng các liệt sĩ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Gio Linh (Quảng Trị). Ảnh: TRẦN HOÀI |
Mãi đến ngày 2-5-1965, các thi thể của bộ đội ta mới được mai táng. Lý giải về điều này ông Lai cho biết, vì đồn địch vừa mới bị đánh nên dân làng không ai dám ra nhận, nhưng nếu để lâu ngày sẽ ô nhiễm môi trường. Sau đó, các vị cao tuổi, phật tử chùa Lan Đình nghĩ ra cách lấy danh nghĩa đạo hữu đứng ra làm việc hiếu này. Khu mai táng là bãi đất trống khá rộng, nằm giữa căn cứ Dốc Miếu và một vị trí gọi là "đồn quốc tế". Điều đáng tiếc là những người trực tiếp thực hiện việc chôn cất giờ không còn ai. Cách đây mấy năm, 2 hộ dân tại đây trong lúc cải tạo vườn và múc móng xây nhà vô tình tìm thấy 3 bộ hài cốt, sau đó đem mai táng lại trong nghĩa trang nhân dân.
Ngày 15-9-2026, ông Nguyễn Lai từ Lâm Đồng trở về quê phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Ông vẽ sơ đồ, chỉ dẫn lại các địa điểm, nhưng sau bao nhiêu năm thay đổi, vườn sắn, rừng cao su mọc lên rất dày. Ông Lai cho rằng, xung quanh hàng rào căn cứ Dốc Miếu nếu tìm thấy hài cốt thì chắc chắn đó là hài cốt bộ đội ta. Bởi từ đó đến nay, người dân không an táng người chết tại khu vực này. Theo quan điểm của ông Lai, lực lượng chức năng cần tập trung vào khu vực phía sau căn cứ Dốc Miếu, cách lớp hàng rào ngoài cùng khoảng 50-100m, đồng thời thay đổi phương pháp tìm kiếm, nếu dùng sức người đào tràn lan trên khu vực quá rộng sẽ không có hiệu quả. Ông cho rằng, lực lượng chức năng cần có sự hỗ trợ của máy móc chuyên dụng, chỉ có dùng thiết bị ra đa dò tìm, quét địa hình mới có thể khoanh vùng chính xác những vị trí nghi là có hài cốt liệt sĩ.
Thời gian và bom đạn xóa nhòa tất cả, phủ lên vùng đất thiêng Dốc Miếu lớp tro tàn lãng quên. Nhưng lịch sử vẫn được neo giữ trong tâm khảm của những người còn sống. Hơn 60 năm đằng đẵng trôi qua, từ những mảnh ghép ký ức thấm đẫm tình người và nước mắt ấy, một hành trình không kém phần gian nan được mở ra. Thiêng liêng hơn thế, đó là tiếng gọi bình yên để những người lính quả cảm nằm lại ở nơi đây được trở về trong vòng tay ấm áp của đồng đội, gia đình đang mong ngóng từng ngày...