Sinh năm 1951 tại Hà Nội, chàng sinh viên Khoa Toán, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 ngày ấy lẽ ra đã đứng trên bục giảng. Thế nhưng, cái duyên nghiệp lại dẫn lối ông đến với kịch nghệ. Hơn 50 năm làm nghề, NSƯT Bùi Vũ Minh trở thành cái tên bảo chứng cho những kịch bản có chiều sâu văn hóa và tâm lý.
Chia sẻ về kịch gia thường xuyên đồng hành với mình trong sáng tạo những vở diễn, đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Hùng cho biết, Bùi Vũ Minh thuộc số ít tác giả đa năng, vừa viết cho kịch nói hiện đại, vừa am tường lối hành văn của sân khấu chèo truyền thống. Với NSƯT Bùi Vũ Minh, làm nghệ thuật trước hết phải có phông văn hóa. Ông đi "lang bạt kỳ hồ" khắp đất nước để tìm tòi kịch bản, học từ chính những nghệ sĩ gạo cội và thực tế đời sống, bởi ông quan niệm nếu không tự bồi dưỡng kiến thức và tiếp xúc với hiện thực, kịch bản sẽ chỉ là một sự sắp xếp duy lý, thiếu đi cái tình và tài năng văn chương.
 |
| Cảnh trong vở kịch “Con đò của mẹ”. Ảnh: THẾ TOÀN |
Nếu coi sự nghiệp sáng tác của NSƯT Bùi Vũ Minh là một bức tranh thì gam màu chủ đạo chính là đề tài chiến tranh và cách mạng. Ông giãi bày: “Khi đất nước có chiến tranh, mình đã không đóng góp bằng xương máu thì đóng góp bằng tình cảm, bằng chính khả năng qua trang viết”. Bởi vậy, trong kịch của ông, chiến tranh không chỉ có tiếng súng mà còn có những “hố đen” trong tâm hồn người ở lại, đó là “Con đò của mẹ”-một bản anh hùng ca về sự hy sinh thầm lặng (từng giành huy chương vàng tại Liên hoan Kịch nói toàn quốc năm 2021). Hình ảnh người mẹ Việt Nam anh hùng cam chịu mọi điều tiếng để làm hậu phương cho chồng, con hoạt động cách mạng đã lấy đi nước mắt của bao khán giả. “Người không cô đơn”, câu chuyện về một binh nhì mất trí nhớ sau chiến tranh, gương mặt biến dạng đến mức người thân không nhận ra, chỉ còn sót lại những khẩu lệnh “xung phong” trong ký ức...
Những nhân vật trong tác phẩm của NSƯT Bùi Vũ Minh, dù là chính diện hay phản diện, luôn có những khoảng lặng nội tâm. Ông không đẩy cái ác đến tận cùng vì lòng tin mãnh liệt vào sự hướng thiện. Đó là cái nhìn nhân văn của một người nghệ sĩ luôn tự nhận mình còn nợ nhân dân, nợ những người đã ngã xuống vì độc lập, hòa bình của Tổ quốc.
Hai trong số những tác phẩm gây tiếng vang lớn nhất gần đây của ông đã khắc họa hai sắc thái khác nhau của lòng yêu nước: “Người tù trao áo” khắc họa hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên trung Vũ Văn Hiếu, Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên của khu mỏ Quảng Ninh, người từng hai lần bị thực dân Pháp đày ra nhà tù Côn Đảo. Trước lúc hy sinh, người tù Vũ Văn Hiếu đã trao lại chiếc áo duy nhất của mình cho đồng chí Lê Duẩn với mong muốn đóng góp chút công sức cuối cùng cho cách mạng. Hành động này đã trở thành biểu tượng cao đẹp về tình đồng chí, đồng đội, ý chí đấu tranh bất khuất cho đến hơi thở cuối cùng của người chiến sĩ cách mạng, được nhà thơ Tố Hữu khắc họa qua hai câu thơ: “Chết còn trút áo cho nhau/ Miếng cơm dành để người sau ấm lòng”.
Vở kịch không chỉ là sự tri ân mà còn là bài học sâu sắc cho thế hệ trẻ về cái giá của độc lập. Với vở “Người hát ả đào”, tác phẩm chọn một góc nhìn đầy thi vị: Những cô đào hát phố Khâm Thiên, những cô gái làng hoa Ngọc Hà hoạt động bí mật trong lòng địch. Bằng lối kể chuyện mềm mại, trữ tình của sân khấu chèo, NSƯT Bùi Vũ Minh đã khắc họa chân dung những người Hà Nội bình dị nhưng đầy khí phách, quyết bảo vệ Thăng Long-Hà Nội ngàn năm văn hiến.
Dù đã có gần 100 vở diễn được dàn dựng thành công, nhà viết kịch Bùi Vũ Minh vẫn không giấu nổi những tiếng thở dài trăn trở. Ông buồn khi sân khấu hiện nay đôi khi chỉ để phục vụ các hội diễn lấy huy chương thay vì đến gần hơn với khán giả. Ông lo lắng về sự hụt hẫng của đội ngũ tác giả kế cận-những người cần có cả “phông” văn hóa rộng lẫn sự nhạy bén với thời đại.
Bên chén trà chiều, người nghệ sĩ già ấy vẫn đang miệt mài viết. Với ông, mỗi trang kịch là một lần soi chiếu lại quá khứ, để những giá trị của tình yêu nước và lòng nhân ái không bao giờ bị mai một theo thời gian.