Sau hơn hai mươi năm, tôi mới có dịp đọc lại hai cuốn sách “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. Từng ra mắt công chúng vào năm 2005, hai cuốn sách được xuất bản từ việc tập hợp những tư liệu quý giá của gia đình, người thân và những người một thời ở phía “bên kia giới tuyến”.
Những trang viết giàu cảm xúc và rất chân thật trong hai cuốn nhật ký thời chiến như những thước phim tư liệu làm sống lại những ngày tháng chiến đấu gian khổ, khốc liệt và hào hùng của các thế hệ cha anh trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ. Hai cuốn nhật ký đã gây xúc động lòng người bởi nội dung nhân văn sâu sắc được viết ra từ khối óc và trái tim tinh tế, mẫn cảm của hai tâm hồn tuổi trẻ.
 |
Bìa hai cuốn nhật ký.
|
1. Đang là sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Nguyễn Văn Thạc (1952-1972) đã xếp bút nghiên tình nguyện lên đường chiến đấu. Nhập ngũ năm 1971 khi mới 19 tuổi đời, cũng như bao thanh niên trí thức khác, anh bỏ lại sau lưng tất cả những hoài bão, khát vọng và ước mơ sôi nổi của thời sinh viên để hòa vào dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc với một mong muốn góp sức tuổi xuân của mình cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Vào chiến trường phải luôn đối mặt với gian khổ, nguy hiểm và lúc nào cũng cận kề cái chết, có lúc không tránh khỏi tâm trạng bâng khuâng của tuổi mới lớn, nên có lúc anh tự sự thành thật với lòng mình: “Không ai muốn cuộc đời mình phải buồn bã cả, nhưng rất ít người trên đời này đạt được điều mình mong muốn. Mất mát nhiều, nhưng cố gắng làm sao cho mình khỏi thất vọng, khỏi mất nghị lực luôn hun cháy lòng mình. Đó mới là điều quan trọng”.
Với suy nghĩ như thế, Nguyễn Văn Thạc đã cố gắng tạo cho mình một cuộc sống hồn nhiên, vô tư, giữ được cân bằng tâm lý cá nhân, hòa mình vào guồng quay chung của tập thể đơn vị. Bởi thế, anh đã tự nhủ: “Bây giờ chính là lúc mình đóng góp mà, tuổi thanh niên là tuổi cống hiến. Thạc đừng vội nghĩ đến những đòi hỏi hưởng thụ. Hãy cao hơn những tính toán cá nhân”. Hướng về một ngày mai tươi đẹp, anh đã vượt qua được trở ngại những ngày đầu bỡ ngỡ của đời lính và bộc bạch chân thành: “Mình chẳng cảm thấy cô đơn, và có lẽ đây chính là những lúc cảm thấy đẹp đẽ nhất trở về. Nhìn những ngôi sao long lanh trên bầu trời, bao nhiêu ý nghĩ hồng hào của tương lai làm mình sung sướng. Mình sẽ đi bộ đội cho đến khi nào hết giặc... Thu thập thật nhiều vốn sống, và sẽ viết văn, sẽ làm thơ ca ngợi những con người đã hy sinh những gì quý giá nhất của riêng mình cho giai cấp, cho dân tộc. Trước hết là làm tròn nhiệm vụ của người lính thông tin, sẽ thành người báo vụ chân chính, xứng đáng với lòng tin của mọi người”.
Càng sống những tháng ngày quân ngũ, Nguyễn Văn Thạc càng có thêm nhiều kinh nghiệm dày dạn và từ đó, ý chí, bản lĩnh chiến đấu của anh được tôi luyện, bồi đắp và suy nghĩ, nhận thức về vai trò, trách nhiệm công dân của mình đối với đất nước và nhân dân cũng từng bước chín chắn, trưởng thành. Ngày 23-2-1972, sau hơn 5 tháng huấn luyện vất vả và hành quân ròng rã, anh đã viết: “Từ lúc nào không rõ, mình có ý thức chủ nhân đất nước. Dạo còn bé đi học, mình biết rằng còn có cha mẹ, có thầy cô giáo và mọi người lớn lo thay cho mình. Song giờ đây mình hiểu rằng, chính mình là trụ cột của đất nước. Tố Hữu nói đúng làm sao: “Lịch sử chọn ta làm điểm tựa”. Ừ, đâu còn là một chân lý trừu tượng nữa, mà đã là sự thật. Không chỉ nhận ra, mình còn sung sướng và tự hào vì nhiệm vụ vẻ vang ấy”.
2. Là một trí thức trẻ tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Y khoa Hà Nội, bác sĩ Đặng Thùy Trâm (1942-1970) đã xung phong vào công tác trong chiến trường. Chị đảm nhiệm phụ trách Bệnh viện huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi)-một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương binh, bệnh binh.
Là người hết sức nhạy cảm, tinh tế và giàu lòng nhân hậu, khoan dung, chị đã vượt qua tình cảm riêng tư không thuận lợi và một số phiền toái của thói đời để tận tâm, tận lực cứu chữa thương binh, bệnh binh-những người đồng chí, đồng đội thân yêu đã trực tiếp cầm súng chiến đấu với kẻ thù hung bạo gấp bội lần. Tuy không sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đức Phổ, nhưng tận mắt chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh nên chị rất đồng cảm, thấu hiểu và thương xót những người dân thường vô tội đã bị bom đạn kẻ thù sát hại. Chị tâm tình: “Trong chiến tranh ai còn, ai mất, khi nước nhà được độc lập nếu như mình có chết thì cũng được hưởng những ngày xã hội chủ nghĩa rồi. Còn trăm nghìn vạn người lớn lên chỉ biết cái đau thương, gian khổ và còn nhiều người ngã xuống mà chưa hề hưởng được một ngày hạnh phúc, đau xót biết chừng nào”.
Đối mặt với những thách thức ghê gớm của chiến tranh, có lúc chị không tránh khỏi những nỗi niềm xao động. Nhưng từ tình yêu Tổ quốc và tình nghĩa sâu nặng với đồng đội, đồng bào, chị đã thổ lộ lòng mình với bạn bè: “Không ở đâu giá trị đích thực của con người được thấy rõ như tại chiến trường miền Nam lúc này, nơi đó chị sẽ làm được nhiều việc có ích... Trong gian lao chị sẽ tìm được hạnh phúc chân chính”. Và niềm lạc quan cách mạng đã giúp chị nhận thức ra một điều: “Từ trong gian khổ mới hiểu rõ hơn giá trị của những người cách mạng. Ai đứng vững trong lửa đỏ và nước sôi, người đó là người chiến thắng”; “Người cộng sản rất yêu cuộc sống, nhưng khi cần có thể nhẹ nhàng chết được”. Ngày 27-9-1968, khi được kết nạp Đảng, chị rất phấn khởi, tự hào vì quá trình nỗ lực phấn đấu của mình đã được đền đáp. Từ trong trái tim, chị đã tự nhủ lòng mình: “Phải phấn đấu để sống xứng đáng với cái tên “một người cộng sản!”. Bằng công việc, trách nhiệm và tình cảm của người bác sĩ, chị đã giữ trọn lời thề thiêng liêng ấy.
3. Nguyễn Văn Thạc mong muốn chiến tranh kết thúc, anh được trở về với người yêu và sau này theo đuổi nghiệp văn để viết thật nhiều về những tấm gương, hành động hy sinh cao đẹp của đồng bào, đồng chí mình. Còn Đặng Thùy Trâm hy vọng sau khi đất nước sạch bóng quân thù, chị “sẽ trở về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình, mình sẽ biết quý từng phút, từng giây hòa bình ấy bởi vì có sống ở đây mới hiểu hết giá trị của cuộc sống”. Nhưng chị từng thốt lên: “Ôi, cuộc sống đổi bằng máu xương, tuổi trẻ của bao người!”. Chiến tranh tàn ác và khốc liệt là thế! Chiến tranh hung bạo giết đi bao sinh linh bé nhỏ, bao người dân thường vô tội và dã tâm bóp nát cả những khát vọng, ước mơ bình dị nhất của bao cuộc đời.
Anh Nguyễn Văn Thạc và chị Đặng Thùy Trâm đã ngã xuống, những ước mơ của anh chị không trở thành hiện thực, nhưng đúng như chị Trâm từng viết: “Biết bao nhiêu cuộc đời đã chấm dứt để cho cuộc đời khác được tươi xanh”. Anh chị đã ngã xuống như người anh hùng và bản thân mỗi người là một tấm gương cao đẹp về nghị lực vượt khó, tinh thần quả cảm, sự chịu đựng gian khổ và tình cảm yêu nước, thương dân sâu sắc, sáng trong.
Những trang nhật ký của hai liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc vượt qua tính chất thông thường của hai cuốn nhật ký cá nhân để trở thành những ký ức đẹp đẽ, cao cả của một thế hệ thanh niên đã tình nguyện hiến trọn tuổi xuân của mình cho sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước. Đó là hai trái tim tinh tế cùng chung một tâm hồn rực lửa có sức lay động, lan tỏa sâu rộng trong tình cảm, niềm tin của thế hệ trẻ hôm nay.
Trân trọng lịch sử, noi gương thế hệ cha anh, vượt qua mọi chông gai, thử thách trong cuộc sống, công tác và cả những cạm bẫy, cám dỗ đời thường, đó là hành động thiết thực nhất để mỗi chúng ta giữ được “chất lửa” mà hai cuốn nhật ký của hai liệt sĩ trao gửi, truyền lại.
|
Cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản, phát hành tháng 5-2005. Dựa trên nội dung cuốn nhật ký này, Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất bộ phim “Mùi cỏ cháy” (kịch bản Hoàng Nhuận Cầm, đạo diễn Nguyễn Hữu Mười). Bộ phim đã giành giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 năm 2011 và chiến thắng ở hạng mục Phim điện ảnh xuất sắc Giải thưởng Cánh diều vàng năm 2012 của Hội Điện ảnh Việt Nam.
Cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản và phát hành vào dịp kỷ niệm 58 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-2005). Dựa trên nội dung cuốn nhật ký này, Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Nhật Minh đã viết kịch bản và đạo diễn phim “Đừng đốt”. Bộ phim giành giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 16 năm 2009 và chiến thắng ở hạng mục Phim nhựa xuất sắc Giải thưởng Cánh diều vàng năm 2010.
Cùng với tác phẩm “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã được bình chọn là một trong 10 sự kiện văn hóa tiêu biểu của Việt Nam năm 2005.
|