Sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh, như bao thanh niên trai tráng khác, Nguyễn Đức Mậu hăng hái lên đường nhập ngũ khi vừa tròn 18 tuổi. Ông được điều về Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 anh hùng, có thời gian tham gia chiến đấu tại Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng của nước bạn Lào. Năm 1974, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Năm 1975, ông cũng theo bước đoàn quân giải phóng thần tốc giải phóng miền Nam. Ông đã vào Huế, vào TP Hồ Chí Minh, đi khắp các vùng đất phía Nam trong những ngày tháng lịch sử của dân tộc. Rồi ông lên biên giới phía Bắc, vào chiến trường Tây Nam... Ông đến với người lính, viết về họ như là một cách thực hiện sứ mệnh của cuộc đời mình. Những bài thơ về Bộ đội Cụ Hồ của ông, như nhận xét của Giáo sư Mã Giang Lân là được viết “bằng chính trải nghiệm của bản thân mình, không cầu kỳ tô vẽ, đậm chất sống thực và độ sâu tâm hồn” với một giọng thơ “tự nhiên, mộc mạc, giản dị, chân tình”, qua đó đã “dựng lên được chân dung cả một thời đại, một dân tộc anh hùng”.
 |
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu. Ảnh: DƯƠNG THU
|
Sau bao nhiêu năm, thơ ông mở rộng ra nhiều mảng đề tài thơ khác như thơ thiếu nhi, thơ tình, thơ về Hà Nội... ở đề tài nào ông cũng có những thành công nhất định. Nhiều bài thơ của ông được đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông, trở nên thân thuộc với nhiều thế hệ học trò như “Hành trình của bầy ong”, “Khi bé Hoa ra đời”, “Hoa bìm”.... Nhưng sau tất cả, đề tài người lính và chiến tranh cách mạng vẫn là dòng chảy chủ đạo trong sáng tác của ông. Bạn đọc nhớ đến ông là nhớ đến “Trường ca Sư đoàn”, “Trường ca Côn Đảo”, nhớ đến “Nấm mộ và cây trầm”, “Màu hoa đỏ”, “Sông Thạch Hãn”, “Một vị tướng về hưu”... Những tác phẩm đưa ông đến với các giải thưởng uy tín, nổi bật là Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật và một vị trí vững chắc trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong thế hệ nhà thơ kinh qua chiến tranh từng công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu là người để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu đậm hơn cả. Tôi biết ông-chính xác là thơ ông-trước nhất không phải qua đài báo, sách vở mà qua... bậc sinh thành. Bố tôi rất mê thơ bác Mậu, nhất là bài “Nấm mộ và cây trầm”. Tôi nghe bố ngâm bài thơ suốt cả tuổi thơ đến mức cũng thuộc theo. Sau này, khi biết con trai làm cùng cơ quan với bác, bố tôi rất vui. Hôm cưới tôi, mặc dù bận bịu vô cùng trong vai trò “long trọng viên” nhưng ông vẫn chăm chăm bắt tôi dẫn ra gặp bác Mậu bằng được để ngắm... “thần tượng” của mình ngoài đời thực.
Khi nhà thơ Nguyễn Đức Mậu về hưu, tôi vẫn hay gặp bác. Phần vì nhà bác gần cơ quan, bác lại thường xuyên đi bộ dạo phố Lý Nam Đế để ra bến xe buýt bắt xe rong chơi khắp phố phường Hà Nội, phần vì công việc. Bác vẫn tham gia chấm giải thưởng của Bộ Quốc phòng về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng ở mảng văn học mà tôi có mấy mùa làm thư ký. Mỗi lần qua nhà bác đưa tài liệu, gặp gỡ nói chuyện văn, chuyện đời đều rất vui. Biết tôi làm phê bình, trong một lần cao hứng, bác còn gọi tôi là “vịt cỏ” với cái ý làm nghiên cứu, phê bình văn học đôi lúc cần có máu liều, sự “hăng tiết vịt” mới có thể đi xa.
Và vào những ngày cuối xuân 2026 này, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu lại bước vào cuộc hành trình thơ ca mới với những người đồng đội ở miền trời xanh, mây trắng. Chắc hẳn trên hành trình ấy, ông vẫn sẽ viết về những người lính Cụ Hồ như lời tự bạch: Tôi yêu những câu thơ mặc áo lính sờn vai/ Những câu thơ nằm chiến hào đợi giặc/ Những câu thơ trộn mồ hôi, bùn đất/ Những câu thơ từ thực chất cuộc đời/ Như cây lá không cần trang điểm (Trường ca Sư đoàn).