Phục hưng nghệ thuật truyền thống

Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm với kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú và đặc sắc. Các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống như tuồng, chèo, xẩm, quan họ, âm nhạc dân gian Nam Bộ giữ vị trí then chốt trong việc kết tinh bản sắc dân tộc qua làn điệu, trang phục ước lệ và hệ thống động tác sân khấu giàu tính biểu tượng, hàm chứa triết lý sống và cảm xúc cộng đồng. Đó không chỉ là nghệ thuật biểu diễn mà còn là ký ức tập thể được nén lại và truyền qua nhiều thế hệ bằng những phương thức riêng.

Ca sĩ Phương Mỹ Chi trình bày ca khúc "Ếch ngoài đáy giếng". Ảnh: NGUYỄN MINH  

Trong một thời gian dài, các di sản ấy từng là chiếc cầu nối tự nhiên giữa quá khứ và đời sống đương thời. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, mặt trái của cơ chế thị trường và sự xâm lăng văn hóa,... đã làm thay đổi thói quen thưởng thức. Chỉ trong vài thập kỷ, sân khấu truyền thống thưa vắng khán giả, nhiều phường hát hoạt động cầm chừng, thậm chí biến mất. Nghệ nhân cao tuổi lần lượt xa rời sân khấu, trong khi lớp kế cận còn nhiều bỡ ngỡ. Nghệ thuật truyền thống dần bị đẩy vào không gian bảo tồn, trình diễn minh họa hoặc các dịp lễ nghi mang tính tượng trưng. Khoảng cách với đời sống đương đại vì thế ngày một xa hơn.

Khoảng mười năm trở lại đây, bức tranh bắt đầu đổi sắc. Một lớp người trẻ quay lại với nghệ thuật truyền thống không chỉ bằng tâm thế hoài niệm mà bằng hành động sáng tạo có chủ đích. Họ tìm đến nghệ thuật dân gian không chỉ là cảm hứng mà còn là chất liệu thẩm mỹ có thể tái sử dụng và tái cấu trúc trong bối cảnh đương đại. Lực lượng tham gia trải rộng từ ca sĩ, nhạc sĩ, đến nhà sản xuất, đạo diễn, người làm nội dung số và các cá nhân say mê văn hóa dân tộc.

Dễ nhận thấy mục tiêu hiện nay không còn dừng ở bảo tồn mà chuyển dần sang phát triển và làm mới. Chất liệu dân gian được đặt cạnh pop, rap, EDM (nhạc nhảy điện tử)... Làn điệu cổ đi vào cấu trúc ca khúc hiện đại. Nhạc cụ truyền thống xuất hiện cùng hệ thống phối khí điện tử. Một số gương mặt trẻ tạo dấu ấn khi đưa dân ca, xẩm, chèo vào sản phẩm âm nhạc đại chúng, tạo sức hút trên thị trường và các nền tảng trực tuyến. 

Theo TS Lư Thị Thanh Lê, giảng viên Bộ môn Công nghiệp văn hóa và sáng tạo, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc chủ động đưa chất liệu dân gian vào sáng tạo đương đại không phải hiện tượng nhất thời mà nằm trong dòng chảy định hướng phát triển công nghiệp văn hóa. “Có thể thấy trọng tâm hiện nay không chỉ dừng ở bảo tồn mà chuyển sang phát huy giá trị và tái tạo. Nhiều gương mặt trẻ đưa dân ca, xẩm, chèo vào sản phẩm âm nhạc đại chúng, tạo sức hút trên thị trường và các nền tảng trực tuyến. Đồng thời, không ít dự án tận dụng YouTube và TikTok để tái hiện và phổ biến tri thức di sản, giúp giá trị truyền thống tiếp tục hiện diện trong môi trường công nghệ, thay vì chỉ nằm trong kho tư liệu”, TS Lư Thị Thanh Lê nhận định.

Sức bật từ thẩm mỹ dân tộc

Sự bung nở của các hình thức làm mới thể hiện rõ trong lĩnh vực biểu diễn. Nhiều nghệ sĩ trẻ chủ động xem dân gian như một ngân hàng giai điệu và hình tượng để khai thác. Phương Mỹ Chi với “Ếch ngoài đáy giếng” kết hợp dân ca Nam Bộ và nhạc RnB, mở rộng biên độ cảm xúc cho chất liệu quen thuộc. Soobin Hoàng Sơn trong “Mục hạ vô nhân” thử nghiệm theo tinh thần xẩm cả ở phần hình ảnh lẫn cấu trúc âm nhạc. Hòa Minzy đưa yếu tố chèo vào không gian pop, góp phần tạo màu sắc riêng cho ca khúc đình đám “Bắc Bling”. Những sản phẩm này thu hút hàng triệu lượt xem, cho thấy chất liệu truyền thống không hề kén khán giả khi được xử lý bằng ngôn ngữ đương thời.

Điểm đáng chú ý nằm ở cách tiếp cận. Thay vì chỉ khoác lớp áo hiện đại mang tính trang trí, nhiều nghệ sĩ giữ lại hồn cốt giai điệu và cấu trúc biểu đạt, sau đó mới mở rộng bằng kỹ thuật sản xuất mới. Sự lai ghép vì vậy không dừng ở bề mặt mà tạo ra dạng bản sắc mới trong nhạc đại chúng, nơi yếu tố dân tộc hòa vào tổng thể thẩm mỹ của sản phẩm.

Nhìn từ thực hành nghề, nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc, người có hơn 30 năm gắn bó với xẩm, cho rằng đây là chuyển động tích cực mang tính tất yếu. “Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào muốn tồn tại trong đời sống hôm nay đều phải tìm được cách đối thoại với thị hiếu đương đại”. Theo nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, cần tách bạch hai hướng đi: Bảo tồn phải dựa trên nghiên cứu và tiêu chí nghiêm ngặt để giữ nguyên giá trị cốt lõi của loại hình; còn sáng tạo có thể cải biên trên nền tảng hiểu biết vững chắc, để phù hợp người nghe, người xem hôm nay nhưng không làm mất đi bản sắc.

Xu hướng này được củng cố qua các sự kiện quy mô lớn trong những năm gần đây. Một số concert (nhạc hội) quốc gia năm 2025 phối mới âm nhạc cách mạng và chất liệu truyền thống theo tinh thần hiện đại, thu hút đông đảo khán giả. Liên hoan chèo toàn quốc quy tụ gần 900 nghệ sĩ, trong đó có nhiều nghệ sĩ trẻ, cho thấy lực lượng kế cận không còn mỏng như lo ngại. Nhiều chương trình biểu diễn và giải trí có yếu tố dân gian đạt doanh thu cao, chứng tỏ khi được tổ chức bài bản, nghệ thuật truyền thống có thể tham gia trực tiếp vào thị trường, thay vì chỉ đứng ngoài với tư cách di sản trưng bày.

Trên bình diện quốc tế, nghệ sĩ trẻ mang yếu tố dân gian Việt Nam ra sân chơi khu vực và toàn cầu. Có người giới thiệu bài chòi, võ thuật, hình tượng huyền sử trong tiết mục dự thi. Có người lấy cấu trúc giai điệu dân gian làm trục chính cho bài hát tranh giải. Những kết quả tích cực cho thấy chất liệu truyền thống không làm giảm khả năng cạnh tranh mà còn tạo dấu hiệu nhận diện riêng giữa thị trường âm nhạc nhiều mẫu số chung.

Kể chuyện di sản trên không gian số  

Nếu sân khấu và thị trường âm nhạc tạo ra đột phá rõ rệt thì một làn sóng làm mới khác cũng đang diễn ra sôi nổi trong không gian số. Khi khán giả trẻ tìm về văn hóa truyền thống như một điểm tựa tinh thần, nhiều dự án nội dung di sản xuất hiện với cách tiếp cận có nghiên cứu và phương pháp. Dự án “Hành trình di sản” do nhà sản xuất nội dung số Phạm Đức Long và cộng sự thực hiện là một trường hợp tiêu biểu.

Tuồng và chèo vốn gắn với đình làng, chiếu hát, rạp diễn. Khi bước lên nền tảng số, các loại hình nghệ thuật độc đáo này đi vào môi trường có nhịp xem nhanh, thời lượng ngắn và chịu chi phối mạnh của thuật toán. Sự dịch chuyển này không chỉ là đổi kênh phát hành mà còn là thay đổi môi trường sống của loại hình. Người làm nội dung buộc phải trả lời câu hỏi khó về cách giữ tinh thần ước lệ, nhịp thưởng thức từ tốn và chiều sâu biểu đạt của sân khấu truyền thống trong ngôn ngữ hình ảnh đương đại.

Trước khi chuyển sang mảng văn hóa, Phạm Đức Long được biết đến như một nhà sáng tạo nội dung phổ biến kiến thức với nhịp dựng nhanh và thông tin cô đọng. Việc chuyển hướng sang di sản không phải lựa chọn ngẫu hứng. Theo quan điểm của anh, văn hóa là bài toán dài hạn, đòi hỏi đầu tư và chấp nhận rủi ro. Dự án được định vị lại theo hướng làm truyền thông cho văn hóa, thay vì dùng văn hóa như chất liệu giải trí đơn thuần.

Ê-kíp của Phạm Đức Long dành nhiều thời gian làm việc trực tiếp với nghệ nhân và nghệ sĩ để đi vào cấu trúc biểu đạt và logic thẩm mỹ của từng bộ môn. Quá trình này giúp người làm nội dung hiểu từ gốc, thay vì chỉ đứng ngoài quan sát. Khi đã thực sự bị thuyết phục từ bên trong, cách kể bằng hình ảnh trở nên chắc tay hơn và tạo được độ tin cậy tự nhiên. Sức hấp dẫn vì thế đến từ chiều sâu nội dung, không dựa vào hiệu ứng kỹ thuật hay sự phô trương bề mặt.

Phép thử đáng kể nhất theo Phạm Đức Long nằm ở quá trình hợp tác với Nhà hát Sân khấu truyền thống Quốc gia Việt Nam. Trong bối cảnh không ít thiết chế còn dè dặt với môi trường số, việc chủ động xây dựng quy trình làm việc rõ ràng, trao đổi mục tiêu và lộ trình cụ thể với lãnh đạo và nghệ sĩ trở thành chìa khóa tạo dựng niềm tin. Khi ê-kíp cho thấy thái độ tôn trọng nghề và nền tảng nghiên cứu nghiêm túc, khoảng cách giữa hai phía dần được thu hẹp. Sự cởi mở từ đơn vị nghệ thuật từ đó mở đường cho hợp tác đi sâu vào chuyên môn, thay vì chỉ dừng ở mức quảng bá.

Các chỉ số theo dõi và tương tác hiện ở mức cao với hàng trăm nghìn lượt theo dõi và hàng triệu lượt tương tác. Tuy vậy, Phạm Đức Long cho biết con số không phải mục tiêu sau cùng. Điều quan trọng hơn là sự dịch chuyển trong cách tiếp nhận của công chúng, từ xem cho biết sang tìm hiểu có hệ thống. Trong chặng tiếp theo, “Hành trình di sản” dự kiến mở rộng sang các loại hình di sản nghệ thuật và tín ngưỡng khác, đồng thời thử nghiệm mô hình triển lãm kết hợp công nghệ, hướng tới một mục tiêu bền bỉ, đưa công chúng đến gần di sản hơn và giữ mạch nối giữa truyền thống với đời sống hôm nay.