Để vành nón làng Chuông đổi mới
Dành trọn hơn nửa thế kỷ gắn bó với từng vành tre, nếp lá tại làng nón Chuông, nghệ nhân Lê Văn Tuy luôn trăn trở tìm hướng đi mới cho sản phẩm quê hương. Cơ duyên đến với ông trong những lần tham dự các hội thảo giao lưu làng nghề trên toàn quốc. Quan sát thực tế đời sống, ông nhận thấy trang phục của giới tu hành như y áo, giầy dép, khăn trùm đều có đặc thù riêng, duy chỉ có chiếc nón che nắng mưa là vẫn dùng loại nón lá thông thường.
Nhận thấy khoảng trống đó, ông quyết tâm thiết kế một loại nón mang nét tinh tế, vừa vặn với trang phục của các nhà sư. Ông chia sẻ: “Nhà nước thường tổ chức cho các làng nghề đi hội thảo ở Bắc, Trung, Nam. Đến đâu tôi cũng thấy người ta đề cập đến áo, quần, giầy dép hay khăn của nhà sư, nhưng chưa ai làm nón nhà sư. Vậy là tôi mạnh dạn xin phép đề cập và bắt tay vào làm”.
 |
Nghệ nhân Lê Văn Tuy - người “thổi hồn mới” vào nón lá làng Chuông và sản phẩm nón nhà sư.
|
Thế nhưng, từ ý tưởng đến thực tế là một hành trình dài. Cấu trúc trang phục nhà sư có đặc thù riêng: Áo cà sa có độ rủ rộng hơn trang phục bình thường. Nếu giữ nguyên kích thước nón truyền thống (đường kính khoảng 40cm), chiếc nón sẽ không che hết bờ vai người đội. Còn nếu mở rộng đường kính theo tỷ lệ nón cũ, chóp nón sẽ vút cao chót vót, làm mất đi sự cân đối và thanh thoát.
Mất gần 3 tháng thử nghiệm, ông Tuy quyết định điều chỉnh lại toàn bộ thông số: Mở rộng đường kính đáy lên 50cm, đồng thời hạ độ cao của chóp nón xuống. Sự thay đổi này giúp chiếc nón vừa che chắn tốt phần vai, vừa giữ được phom dáng khum tròn, vừa vặn và tôn lên phong thái đoan trang của người sử dụng.
Tỉ mỉ từ lá cọ đến vành tre
Không chỉ thay đổi về diện mạo bên ngoài, chiếc nón dành cho nhà sư còn đòi hỏi quy trình tuyển chọn nguyên liệu và kỹ thuật chế tác khắt khe gấp nhiều lần sản phẩm bình thường. Để làm ra một chiếc nón đạt chuẩn, cùng một lượng thời gian, người thợ giỏi có thể làm xong 3 chiếc nón lá truyền thống.
Khâu chọn lá đóng vai trò quyết định. Ông Tuy không dùng lá cọ non mà bắt buộc phải sử dụng những búp cọ già xuất xứ từ vùng đất tổ Phú Thọ. Búp cọ già đạt độ đanh, phẳng, khi xử lý nhiệt sẽ giữ được sắc sáng tự nhiên và giúp trọng lượng chiếc nón đạt độ nhẹ tối đa. Phần khung tre làm vành nón cũng được chọn lọc kỹ, phải luộc liên tục trong nước sôi từ 3 đến 4 tiếng để chống mối mọt và tạo độ dẻo dai tuyệt đối khi uốn tròn.
 |
|
Cấu trúc mặt trong của chiếc nón với vòng khua ôm sát đầu và phần nhôi quai mang màu sắc đặc trưng.
|
Đặc biệt, để phù hợp với đặc thù của các nhà sư, nghệ nhân Lê Văn Tuy đã nghiên cứu làm thêm một vòng khua mềm phía bên trong lòng nón. Chi tiết sáng tạo này giúp nón ôm sát đầu, khi di chuyển không bị đau hay dịch chuyển. Ngoài ra, các nhôi nón (phần buộc quai) bắt buộc phải dùng tông màu vàng hoặc màu nâu đặc trưng của chốn tu hành.
Trải qua nhiều lần phải tháo ra khâu lại để căn chỉnh từng sống lá, ông Tuy mới thu được sản phẩm ưng ý. “Mỗi công đoạn đều phải tỉ mỉ, trau chuốt đến độ tinh xảo nhất mới thôi. Dù nón nhìn qua có vẻ dày dặn nhưng khi đội lên lại nhẹ như không. Làm xong, tôi đem đi xin ý kiến các nhà sư ở nhiều nơi, ai cũng đồng tình và đánh giá rất cao” - nghệ nhân Lê Văn Tuy bộc bạch.
Sản phẩm làng nghề tìm đường vươn xa
Những nỗ lực không mệt mỏi của người nghệ nhân làng Chuông đã nhanh chóng thu về những trái ngọt. Tác phẩm nón dành cho nhà sư xuất sắc đoạt giải thưởng tại cuộc thi do UBND thành phố Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức. Không chỉ vinh dự được trưng bày tại Hội báo toàn quốc năm 2023, sản phẩm còn được Nhà nước “chọn mặt gửi vàng”, lựa chọn làm quà tặng trân quý gửi tới các nguyên thủ quốc gia. Cá nhân ông Lê Văn Tuy cũng vinh dự nhận quà tặng kỷ niệm từ Chủ tịch nước ngay tại Phủ Chủ tịch, khẳng định giá trị và vị thế vượt trội của chiếc nón làng Chuông.
Đến nay, sau 3 năm ra đời, chiếc nón độc đáo này không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế. Nhiều tăng ni từ các quốc gia, đặc biệt là Ấn Độ, cùng du khách nước ngoài khi ghé thăm Việt Nam đã tìm đặt chiếc nón của ông. Để tăng tính thẩm mỹ, ông còn nghiên cứu vẽ thêm các họa tiết hoa sen, mái chùa lên mặt nón theo yêu cầu của khách hàng.
 |
| Nghệ nhân Lê Văn Tuy tỉ mỉ trong từng công đoạn làm nón. Ảnh nhân vật cung cấp |
Mặc dù có mức giá cao hơn nhiều lần so với dòng nón lá dân dã thông thường, sản phẩm vẫn duy trì lượng đơn đặt hàng ổn định, trung bình khoảng 300 chiếc mỗi tháng. Đây cũng là một trong những sản phẩm tiêu biểu góp phần giúp gia đình ông sở hữu 5 chứng nhận OCOP 4 sao ở các thể loại nón khác nhau.
Dù đã gặt hái được nhiều thành công, người nghệ nhân được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tặng danh hiệu nghệ nhân vào năm 2016, được Chủ tịch UBND TP Hà Nội công nhận là Nghệ nhân Hà Nội năm 2019 này vẫn giữ trọn sự khiêm tốn. Ông không có ý định thay đổi hay đưa thêm chất liệu hiện đại vào chiếc nón vì muốn giữ trọn nét thuần túy, giản dị của sản phẩm. Hằng ngày, ngoài thời gian chế tác tại xưởng, ông vẫn nhiệt tình chào đón, hướng dẫn các em học sinh tiểu học, trung học cơ sở tại địa phương và du khách gần xa về trải nghiệm làm nón.
Đối với ông, chiếc nón dành cho nhà sư không đơn thuần là một sản phẩm thương mại, mà là “đứa con tinh thần” kết tinh giá trị văn hóa, sự tỉ mỉ của đôi bàn tay người thợ thủ công Việt Nam, tiếp tục tỏa sáng và lan tỏa sức sống làng nghề đến mai sau.