Người ít nói về mình

Cha tôi là ông Đinh Tiến Trường, sinh năm 1945, tại thôn Địch Lộng, xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (trước đây), nay là xã Gia Trấn, tỉnh Ninh Bình. Thời trai trẻ, cha nhập ngũ, công tác tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 (nay là Quân đoàn 12). Trong những năm tháng chiến tranh, đơn vị của cha làm nhiệm vụ tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào).

 Cha mẹ tôi luôn bên cạnh, là chỗ dựa tinh thần cho nhau lúc tuổi già.

Tôi sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa. Những gì tôi biết về quãng đời quân ngũ của cha chủ yếu qua những câu chuyện kể trong gia đình. Cha ít khi nói về mình. Ông cũng không kể nhiều về những gian khổ hay mất mát đã trải qua. Mỗi lần nhắc đến chiến trường xưa, điều cha nhớ nhất vẫn là đồng đội.

Có lần tôi hỏi cha rằng điều gì còn đọng lại sau những năm tháng ở Cánh đồng Chum. Cha trầm ngâm một lúc rồi nói rằng nhiều chuyện đã quên theo năm tháng, nhưng ông chưa bao giờ quên những người đồng đội đã cùng mình đi qua chiến tranh. Câu trả lời giản dị ấy khiến tôi hiểu rằng có những ký ức không cần kể thành lời vẫn ở lại rất sâu trong lòng người lính.

Là lính quân y, công việc của cha gắn với việc chăm sóc và cứu chữa thương binh, bệnh binh. Chiến tranh kết thúc, cha trở về quê hương với những thương tích còn mang trên cơ thể. Những cơn đau vẫn thỉnh thoảng trở lại hành hạ cha khi thời tiết thay đổi. Nhưng tôi chưa từng nghe cha than phiền về điều đó.

Lặng lẽ giúp người

Ở quê tôi, nhiều người biết đến cha bởi ông rất am hiểu về các bài thuốc nam. Sau khi rời quân ngũ, cha dành nhiều thời gian tìm hiểu các bài thuốc dân gian. Những bờ ruộng, triền đê, bãi cỏ quanh làng là nơi cha thường tìm kiếm các loại cây thuốc quen thuộc. Tuổi thơ tôi gắn với hình ảnh cha mang chiếc giỏ nhỏ đi từ sáng sớm. Có những hôm trời nắng gắt, có những ngày mưa phùn lạnh buốt, cha vẫn lặng lẽ ra đồng. Trong chiếc giỏ ấy là những loại lá cây, rễ thuốc mà cha tin rằng có thể giúp ích cho người bệnh.

 
 Những kỷ vật của thời quân ngũ luôn được cha tôi giữ gìn, trân trọng như một phần máu thịt của mình.

Bà con trong làng ai đau ốm thường tìm đến cha tôi để hỏi han. Cha tận tình chỉ dẫn cách dùng thuốc, cách sắc thuốc. Nhiều người mang quà đến cảm ơn nhưng cha thường từ chối. Ông bảo giúp được ai điều gì thì giúp, có gì đâu mà phải nhận quà cáp của người ta?!

Càng lớn lên và hiểu biết nhiều hơn, tôi càng nhận ra những năm tháng quân ngũ dường như chưa bao giờ rời khỏi cha. Chỉ khác rằng, nếu như ngày trước cha chăm sóc đồng đội nơi chiến trường thì hôm nay cha lại giúp đỡ những người dân quê mình bằng những việc làm giản dị.

Cha không dạy chúng tôi bằng những lời lẽ cao xa. Ông sống thế nào thì dạy con như thế. Từ cha, tôi học được sự tử tế, tinh thần trách nhiệm và cách đối xử chân thành với mọi người. Năm nay, cha đã ngoài tuổi tám mươi. Mái tóc đã bạc trắng, bước chân cũng chậm hơn nhiều so với trước. Nhưng mỗi lần nhìn bức ảnh cũ chụp thời quân ngũ của cha, tôi vẫn thấy trong đó ánh mắt của một người lính trẻ đầy nhiệt huyết. Và khi nhìn cha hôm nay, tôi lại thấy những phẩm chất của người lính năm ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Nhiều đồng đội của cha đã không còn nữa. Những người lính trở về như cha giờ đều đã ở tuổi xưa nay hiếm. Nhưng có những điều thời gian không thể làm phai nhạt, đó là tình đồng đội, là tinh thần cống hiến và lòng nhân ái mà họ mang theo suốt cuộc đời.

Đối với tôi, điều đáng tự hào nhất không phải cha từng đi qua chiến tranh hay mang trên mình những thương tích của người lính. Mà là sau tất cả những gì đã trải qua, cha vẫn giữ được một tấm lòng nhân hậu và cách sống chân thành với mọi người. Và đó cũng là hình ảnh về cha mà tôi luôn mang theo trong suốt cuộc đời mình.