Năm ngoái, tôi lỡ chuyến đi về hồ Ba Bể vào ngày đông chí-ngày mà trời đất như xích lại gần nhau nhất. Nơi đây có 3 dòng sông Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng hội tụ giữa những dãy núi đá vôi cao sừng sững, hùng vĩ và cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, thiên nhiên trao cho con người luồng khí trong lành.
Sau những ngày công việc bộn bề, tôi tranh thủ chút thời gian cuối tuần, thu xếp công việc để trở lại thôn Pác Ngòi (xã Ba Bể, tỉnh Thái Nguyên)-ngôi làng cổ nổi tiếng là điểm đến của nhiều du khách trong nước và quốc tế. Tôi đến thăm gia đình người chị thân thiết, cũng là để tận hưởng sự yên ả, không khí trong lành của vùng hồ. Bao ngày mới gặp lại, thật nhiều điều muốn kể. Chị hào hứng khoe, tháng trước, chị dẫn hai vị khách người Pháp đi tham quan thắng cảnh vùng hồ.
 |
Nét đẹp hữu tình hồ Ba Bể (Thái Nguyên). Ảnh: HƯƠNG LY
|
Với hai ngày trải nghiệm, họ vô cùng thích thú. Khi ngồi trên xuồng ngắm hồ Ba Bể, họ mở cuốn sách du lịch “Petaouchnok Guide” để đối chiếu thực tế với hình ảnh trong sách. Thật ra, hồ Ba Bể trong mắt hai vị khách đẹp hơn thế nhiều. Khi họ lật giở từng trang sách, chị bất ngờ thấy bức ảnh người em trai ruột trong bộ quần áo Tày truyền thống đứng trên thuyền độc mộc, chị xúc động và tràn đầy tự hào. Chị vừa nói vừa mở điện thoại cho tôi xem bức ảnh chị chụp vội cuốn sách trên tay vị khách. Thế là chuyến thăm Pác Ngòi hôm ấy của tôi được thêm một câu chuyện thú vị.
Hai chị em tôi rảo bước dưới những tán cây và cổ thụ trên con đường quanh hồ. Trên vòm lá ríu ran chim hót, tháng ba mùa hoa núi đưa hương, dịu dàng và thư giãn. Từ xa có thể thấy những chiếc xuồng ngược xuôi rẽ nước, âm thanh động cơ vang đều, làm xáo động sự tĩnh lặng vốn có. Thi thoảng có vài người chèo thuyền sắt nhỏ thong thả trên hồ, họ sang phía bên kia hồ đi làm đồng, đi câu cá, kéo lưới... những hình ảnh quen thuộc này thật dễ dàng bắt gặp. Mỗi khi nhắc đến thuyền độc mộc, hình ảnh đó vẫn hiện lên sinh động, đầy cảm xúc trong câu chuyện của bà con nơi đây.
Thuyền độc mộc nói theo tiếng Tày là “bẳng lừa”. Từ xa xưa, người dân ven hồ Ba Bể đã gắn bó mật thiết với những chiếc thuyền độc mộc. Tôi nhớ từng xem một bức ảnh của nhiếp ảnh gia người Pháp chụp từ thập niên 1920, cho thấy đời sống trên hồ hơn một thế kỷ trước và có thể lâu hơn nữa.
Chúng tôi đến gặp ông Dương Văn Chằn (66 tuổi, ở thôn Pác Ngòi) khi ông đang mải mê đan chài. Thấy tôi nhắc đến thuyền gỗ, ông dừng tay, tiếp chuyện. Để làm được chiếc thuyền độc mộc phải trải qua nhiều gian nan. Mỗi chiếc thuyền là một cuộc đời của cây bởi được đục hoàn toàn từ thân gỗ lớn, thường là cây đinh hương, cây tràm, lát xoan nguyên khối.
Những người đàn ông trong làng phải lên rừng sâu chọn cây, đôi khi mang theo cơm nắm để ăn giữa rừng. Cây hạ xuống suối rồi cho trâu kéo về bản, nếu cây quá to thì chế tác ngay trên rừng trước khi vận chuyển, mang về đến nhà chỉ bào cho hoàn thiện. Không phải gia đình nào cũng có điều kiện làm thuyền vì lý do sức khỏe, nhân lực hay kinh tế hạn chế, nhưng hễ có ai nhờ, bà con luôn sẵn sàng chung tay giúp nhau. Mọi người chung sức đục, bào, vận chuyển, từ già đến trẻ đều góp phần, cho đến khi chiếc thuyền hoàn tất.
Chiều dài thuyền trung bình 5-10m, rộng 50-60cm, loại gỗ tốt có thể dùng 20-30 năm, gỗ trung bình thì chỉ 4-5 năm. Không chỉ đòi hỏi sức lực, làm thuyền độc mộc còn cần kỹ thuật cân bằng tỉ mỉ, chỉ cần một sai lệch nhỏ, thuyền sẽ bị nghiêng hoặc lật trên hồ, coi như công sức bỏ bể. Để chèo được thuyền phải cần sức khỏe, sự dẻo dai, khả năng dự đoán dòng nước để giữ thăng bằng.
Thuyền độc mộc là phương tiện để người dân Ba Bể chở ngô, thóc, đưa người đi học, đi chợ, thăm người quen thôn trên, bản dưới hoặc đưa đón dâu trong suốt thời kỳ dài. Ông Chằn nhớ lại: “Từ lúc tôi còn bé, khoảng 7-8 tuổi đã học bơi nhanh và biết chèo thuyền”.
Hòa trong câu chuyện rôm rả về thuyền độc mộc, chị bạn tôi ngậm ngùi kể, hồi chưa có đường sá, ngày ấy mới học lớp 3 mà chị đã tự chèo thuyền từ thôn Pác Ngòi vào thôn Bó Lù đi học trường cấp 1. Có hôm đang chèo thuyền thì gặp mưa bão, thuyền bất ngờ lật úp, các em nhanh chóng bơi vào kè đá, chị lớn nhất thì vừa bơi vừa kéo dây buộc thuyền vào rễ cây, đợi nước lặng mới lật lại, cùng nhau tát nước và chèo về nhà. Sự gan dạ, bình tĩnh hình thành kỹ năng sống và tinh thần đoàn kết của người vùng hồ ngay từ khi còn tấm bé.
Thuyền độc mộc lênh đênh trên sóng nước, tuy vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng đầy lãng mạn, thể hiện khí chất con người vùng hồ. Đàn ông phong lưu, hào hoa, mạnh mẽ, khi quăng chài, khi kéo lưới vẫn đứng vững chãi trên chiếc thuyền nhỏ giữa sóng hồ bao la. Người phụ nữ mảnh mai, mải miết chèo thuyền, ngân vang câu lượn, mái chèo khua vào dòng nước trong veo soi bóng mây trời, núi non.
Mỗi gia đình có quan niệm và suy nghĩ riêng, có nhà chọn ngày lành tháng tốt để lên rừng chọn cây làm thuyền và hạ thủy, nhưng có nhà lại chọn cách để thuận theo tự nhiên. Không xa Pác Ngòi, thôn Hợp Thành (xã Đồng Phúc) vẫn còn chiếc thuyền độc mộc to, dài của gia đình ông Vy giữ làm kỷ niệm. Chiếc thuyền có chiều dài 7m, đường kính 50cm, làm từ năm 1987, bằng gỗ đinh hương, được sử dụng gần 20 năm cho đến khi thuyền sắt phổ biến. Ông Vy cùng gia đình kéo chiếc thuyền độc mộc về nhà lưu giữ, mong sao con cháu sau này biết đến và trân trọng hơn.
Thuyền độc mộc giản dị hiến dâng trọn vẹn cho con người. Chọn cây làm thuyền đồng nghĩa cây đã hình thành, phương trưởng trong cả trăm năm, lại thêm nhiều năm mang sứ mệnh trên mặt hồ. Thuyền gắn bó với sinh hoạt, lao động của người dân, chứng kiến biết bao nhọc nhằn, khốn khó và ngược lại, người vùng hồ luôn trân trọng chiếc thuyền gỗ như một ân tình. Bởi vậy, khi thuyền không còn đi trên sóng nước, chủ nhân thường rước về bảo quản, giữ gìn.
Vai trò của thuyền độc mộc không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là công cụ mưu sinh. Trên mặt hồ, người dân thả lưới, đánh bắt cá, tôm. Để di chuyển chiếc thuyền gỗ qua mặt hồ rộng và sâu vài chục mét đã khó, việc mang theo vật dụng nặng còn khó hơn, thế nhưng bà con ven hồ vẫn làm được. Tôi hỏi nếu chở trâu, bò thì thế nào? Ông Chằn cười rồi đáp, để đưa những con vật to nặng như trâu, bò sang bờ chỉ còn cách người ngồi trên thuyền, con vật được buộc dây thừng để dong bơi qua hồ. Trước hết cần thuyền to để người ngồi vững, dễ bề điều khiển, nếu không rất dễ bị hất xuống hồ. Tôi nghe xong càng yêu mến và nể phục hơn sự linh hoạt, thông minh và đầy bản lĩnh của những người con vùng hồ. Có phải thế chăng mà những người tôi gặp nơi đây, từ già đến trẻ, ai cũng đều toát lên sự rắn rỏi, chịu khó nhưng vẫn giữ được vẻ điềm đạm, mực thước, hiền hòa trong lời ăn tiếng nói.
Từ khi rừng được chính quyền bảo vệ, quản lý chặt chẽ hơn, nguồn gỗ lớn ngày càng khan hiếm, nghề làm thuyền dần mai một. Năm 2006, chiếc thuyền sắt đầu tiên xuất hiện ở hồ, tiện lợi cho bà con hơn. Nhưng không vì thế, bà con lãng quên chiếc thuyền gỗ thân thương. Ngành văn hóa địa phương đã quan tâm, sưu tầm một chiếc thuyền gỗ để trưng bày tại nhà văn hóa thôn Pác Ngòi, lưu giữ hình ảnh văn hóa độc đáo này cho các thế hệ mai sau.
Anh Hoàng Văn Chuyền, Trưởng thôn Pác Ngòi mời tôi đến nhà văn hóa thôn để tận mắt ngắm nhìn chiếc thuyền đang được trưng bày tại đây. Chiếc thuyền dài, đẹp, là hiện vật rất giá trị về bản sắc, trí tuệ sinh tồn và tinh thần cộng đồng của bà con vùng hồ. Anh Chuyền cho biết, để giữ gìn nét đẹp văn hóa và bản sắc, hội xuân Ba Bể hằng năm đều tổ chức cuộc thi đua thuyền để bà con ven hồ được dịp vui chơi, đua tài, đua sức. Trong đời sống hôm nay, những chuyến xuồng, thuyền qua lại đều như thoi đưa nhưng thuyền độc mộc vẫn luôn hiện hữu trong ký ức, câu chuyện và đời sống văn hóa cộng đồng ven hồ Ba Bể.
Buổi chiều ở Pò Giả Mải ngắm cảnh, tôi tình cờ gặp các họa sĩ đang trực họa. Trên tấm toan đang dần hoàn thiện hiện ra những chiếc thuyền gỗ với dáng người phụ nữ chèo thuyền nhẹ nhàng, khoan thai trong nét vẽ mềm mại giữa thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng. Mặt hồ lung linh phản chiếu ánh hoàng hôn, vừa dịu dàng vừa lôi cuốn. Được hòa cùng đời sống sinh hoạt, lao động của người Tày nơi đây, tôi càng trân trọng sâu sắc con người, thiên nhiên và những giá trị văn hóa mà vùng hồ Ba Bể đã gìn giữ qua bao đời.