Bà tôi ăn trầu từ khi còn trẻ, nên chiếc cối giã trầu luôn là bạn đồng hành. Chiếc cối giã trầu bằng đồng sáng loáng hình như được cha hay chú tôi tận dụng và nhờ ông thợ rèn làm từ chiếc vỏ đạn 12 ly 7. Chiếc cối hình trụ thon nhỏ, chỉ bằng ngón chân cái của tôi. Nó dài khoảng hơn chục cm, miệng hơi loe, phía dưới đáy cối viền một vòng để buộc dây với chiếc xiên cũng bằng đồng có đầu sắc, bẹt chia làm ba cạnh dùng để nghiền, xé miếng trầu cau cho nhỏ.
Ngày nào bà cũng ăn trầu nên chiếc cối giã được sử dụng thường xuyên, và vì thế cả lòng cối và chiếc xiên dùi trầu đều sáng loáng, bóng bẩy. Chiếc cối ấy được bà bỏ vào cái cơi đan bằng mây có nắp đậy chuyên để đồ dùng ăn trầu như: Ống vôi nhỏ, ống nhổ, gói thuốc lào, vài lá trầu không, cau, rễ chay...
 |
Bộ trầu dân gian. Ảnh: ĐỨC LONG
|
Tôi càng lớn thì bà ngày một già đi. Răng bà yếu dần, có vài chiếc đã rụng nên chiếc cối lại càng gắn bó thân thiết hơn. Mỗi lần ăn trầu, bà phải cho vào cái cối nhỏ giã cho dập lá trầu và miếng cau mới nhai được. Khi tay bà yếu, mắt mờ, tôi và chị lại giúp bà giã trầu. Ngày bà theo ông về trời, lúc thu dọn tư trang cho bà, cha tôi cất cái bình vôi, cơi trầu và cái cối giã trầu hàng ngày bà vẫn ngồi têm trước bậc thềm. Tất cả được đặt vào một cái hòm gỗ cất trong góc buồng. Sau này, những lần giỗ bà, cha thường mang những thứ ấy lên ban thờ.
Từ huyền sử xa xưa, miếng trầu đã xuất hiện trong phong tục của cư dân Việt. Miếng trầu gợi lên bao suy ngẫm về những mối quan hệ anh em, chồng vợ nghĩa tình qua câu chuyện cổ tích “Trầu cau”. Miếng trầu là đầu câu chuyện trong đời sống hằng ngày thấm đượm tình làng nghĩa xóm. Miếng trầu nên dâu nhà người, tác hợp cho đôi lứa, là sợi dây gắn kết lương duyên mà nên nghĩa vợ tình chồng, vì thế mà trong lễ ăn hỏi trai gái quê mình vẫn gọi là “tục bỏ trầu”. Miếng trầu, chén rượu, cây hương trên bàn thờ gia tiên ngày lễ tết là lễ nghi tối thiểu không thể thiếu để tưởng nhớ cội nguồn. Miếng trầu còn là cách làm đẹp một góc con người với “Những nàng môi cắn chỉ quết trầu/Cười như mùa thu tỏa nắng”...
Trên chiếc cơi trầu đặt nơi đầu chõng của bà tôi ngày xưa lúc nào cũng thấy mấy lá trầu quế, vài quả cau, ống ngoáy, bình vôi, chìa vôi, ống nhổ, khúc rễ đắng hoặc miếng vỏ chay, có người còn cả bao thuốc lào ăn kèm cho đậm đà hương vị. Ăn một miếng trầu đủ vị nồng thơm hòa quyện. Miếng trầu đạt độ “ngon” là khi nhổ miếng nước trầu đỏ tươi, miếng trầu nhai bã không nát bấy. Ăn trầu dẫu chỉ ăn cho vui mà cũng mang lại bao suy ngẫm triết lý âm dương ngũ hành biểu tượng cho sự hòa hợp, quấn quýt lứa đôi. Mời nhau một miếng trầu mộc mạc, dân dã mà thấm đượm tình người, tình đời chất phác thật thà. Mùa đông, ăn một miếng trầu cũng là cách để chống lại cái rét như cắt da cắt thịt của quê mình. Ta còn mường tượng bên cánh võng đung đưa trưa hè, lẫn trong những lời hát ru, những câu chuyện kể là hương vị nồng ấm mùi trầu từ cái miệng bỏm bẻm của bà đưa ta vào giấc ngủ.
 |
| Ngày nay, trầu cau vẫn không thể thiếu trong các dịp lễ tết, giỗ chạp. Ảnh: PHƯƠNG THẢO |
Giờ đến lượt mẹ ta cùng các bà lão trong xóm ở tuổi cổ lai hy bỗng chốc trở thành người quan trọng mỗi khi làng có dịp lễ lạt, hiếu hỷ. Bởi thế hệ ngày nay còn mấy ai biết têm trầu, đặc biệt khó như trầu têm cánh phượng. Đã chẳng còn nghe tiếng “gọi nhau râm ran chè xanh” hay “Gặp đây ăn một miếng trầu/Không ăn cầm lấy cho nhau vừa lòng” nữa. Trai gái chẳng còn mượn ca dao, dân ca để bày tỏ lòng mình; mượn chuyện trầu cau để tính chuyện lứa đôi “Trầu xanh, cau trắng, chay hồng/ Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên”;“Yêu nhau trầu vỏ cũng say/Ghét nhau cau đậu đầu khay chẳng màng”...
Dẫu thời nay còn rất ít người ăn trầu, nhưng trầu cau vẫn còn trong các ngày lễ tết, giỗ chạp như một nét văn hóa dân tộc. Vượt lên khỏi thói tục hằng ngày của các bà, các mẹ, chiếc cối giã trầu và miếng trầu trở thành một nét văn hóa rất Việt Nam, một thứ lễ nghi không thể thiếu trong mọi sinh hoạt văn hóa tinh thần và tâm linh của người Việt.