Năm qua thắng lợi vẻ vang,

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc-Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Đêm Giao thừa, chờ cho ngớt tiếng pháo, tiểu đội chúng tôi nằm phân tích bài thơ Bác viết. Đúng là bài thơ Bác viết vừa có ý nghĩa động viên, kêu gọi “chiến sĩ, đồng bào”, vừa tiên đoán và xác định “quy trình” cuộc chiến cùng các bước đi chiến lược: Quân xâm lược Mỹ cút trước, quân ngụy sẽ đổ nhào theo. Cả tiểu đội chúng tôi nằm chung trong hai ổ rơm của nhà dân. Chúng tôi hát vang bài ca phổ nhạc những câu thơ đó, lòng vui hân hoan, đoán ngày nhận lệnh vào chiến trường trong tư thế của đoàn quân giải phóng-đoàn quân chiến thắng. Chúng ta đã có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đã có Chiến thắng Mặt trận Đường 9-Nam Lào rồi. Mùa xuân này sẽ có chiến dịch nào đây? 9 ông binh nhì chúng tôi cứ trằn trọc đoán mò ý định của cấp trên...

Mấy ngày Tết trên núi rừng Yên Thế âm u, không có việc gì làm, cả tiểu đội vào rừng tập phi dao găm. Các bài học về xạ kích, đánh hầm ngầm, lô cốt, xe tăng... chúng tôi đã học, đã tập thành thục lâu rồi. Phi dao găm là môn học riêng của tiểu đội, theo kiểu một chương trình ngoại khóa, tự bịa ra, bắt chước các thám tử trong truyện trinh thám. Tập chán tay, cả tiểu đội lại kéo về nhà chủ, thưởng thức hương vị Tết đất Hà Bắc. Bác chủ nhà cho chúng tôi những chiếc bánh chưng gói bằng gạo nếp nhưng độn cả sắn khô, ăn rất lạ. Ăn bánh chưng sắn, chúng tôi hiểu rằng, đây là tấm bánh của người dân hậu phương đang tiết kiệm lương thực, góp gạo nuôi quân, tất cả hướng về miền Nam-tiền tuyến lớn.

Sau rằm tháng Giêng, hết tuần Nguyên tiêu, chúng tôi nhận lệnh xuất phát, lên tàu vào Nam. Mỗi lần tàu chạy chậm, gặp chị em xã viên hợp tác xã đi làm đồng là từ các cửa sổ, chúng tôi ném bung ra những lá thư viết vội. Thư có phong bì mà không cần dán tem. Như một quy ước đã có từ năm ta bắt đầu đánh Mỹ, nếu phong bì thư ghi hòm thư Quân đội, bưu điện nào cũng phải đóng dấu như có tem. Đúng là thư rơi như cánh hoa đào. Tàu vào ga Hàng Cỏ (Hà Nội) thì chúng tôi chẳng còn biết viết cho ai nữa. Thấy một cô nhân viên đường sắt xinh xinh, tiểu đội tôi ném một lá thư không có phong bì xuống chân chị. Chị nhặt lên đọc ngay. Thấy 3 chữ: “Anh yêu em”, chị cau mặt, giận dữ nhìn tôi. Tôi nhanh trí chỉ tay vào anh đại đội phó. Anh cũng hiểu ngay trò nghịch ngợm của cánh lính trẻ chúng tôi, bèn cười nhăn nhở. Cả hai anh chị nhìn nhau cùng cười.

Thanh niên hành quân bằng tàu hỏa vào chiến trường miền Nam. Ảnh: LÊ VIẾT LUNG 

 

Năm 1972, các chuyến tàu quân sự chở bộ đội đến Dốc Xây-Tam Điệp (Ninh Bình) là phải dừng lại, chờ chạy ban đêm, đề phòng máy bay địch oanh tạc. Đường sắt miền Bắc cũng chỉ cho phép tàu hỏa chạy từ Đồng Đăng đến ga Vinh là kết thúc. Tiểu đội chúng tôi sau khi xuống tàu, được ngủ đêm trong một ngôi nhà tranh ven bờ sông Lam. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh cũng như các tỉnh thuộc Khu 4 cũ, mùa xuân thường đến sớm hơn. Đêm ngủ trọ nhà dân, tiểu đội tôi vẫn nhận ra có mùi hoa là lạ. Sáng dậy, mở mắt ra mới phát hiện sau nhà có một vườn chanh nhỏ. Hình như chanh đang ra hoa đợt hai, vì lấp ló sau kẽ lá đã có nhiều quả chanh non xanh ngắt. Có lẽ do cơ thể thiếu vitamin C, tôi tự nhiên thèm chua kinh khủng. Không kiềm chế nổi cơn thèm, tôi chạy vào vườn hái một quả to nhất bỏ gọn vào mồm. Nhưng vừa bước lên thềm nhà, chưa kịp nhai, tôi đã "vấp trán" chị chủ nhà. Tôi vội che miệng, nhai qua loa rồi nuốt chửng. Chị hỏi chuyện, tôi lúng túng trả lời. Mặt tôi đỏ rần vì biết mồm mình đang phả ra mùi chanh sực nức.

Sau một đêm ngủ nặng nề, trằn trọc, ân hận vì ăn trộm chanh, 9 giờ sáng hôm sau, tôi chồm dậy sau khi nghe có lệnh hành quân. Cả đại đội hối hả gói ba lô, súng đạn lên đường. Anh Tiểu đội trưởng đi sau lưng tôi, vừa đi vừa trích đọc một số điều trong “Mười hai điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân”. Anh đọc lưu loát nhưng lại đọc ngược từ điều thứ ba lên điều thứ nhất: “Ba - Mượn cái gì của nhân dân phải hỏi, dùng xong phải trả, làm hỏng, làm mất phải đền; Hai - Mua bán phải công bằng, sòng phẳng; Một - Không tơ hào cái kim, sợi chỉ của nhân dân”. Anh dừng lại vài giây rồi đọc thật to: “Trừ quả chanh”. Tôi ngượng chín người, quay lại nhìn anh. Anh chỉ tủm tỉm cười. Thì ra không có chuyện gì qua được mắt các chỉ huy, tính từ chỉ huy tiểu đội.

Biết mình bị phát giác vi phạm kỷ luật, dù là nhỏ, tự nhiên chân tôi bước đi mỗi lúc một chậm. Ba lô trên vai mỗi lúc một nặng nề, tôi tụt dần xuống cuối hàng quân. Nỗi niềm ân hận ấy chỉ được giải tỏa vào buổi trưa, khi đội hình hành quân đã vượt phà Bến Thủy, qua bờ Nam sông Lam, bước vào đất Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Đấy là lúc tôi nghe báo có lệnh nghỉ giải lao. Vừa trút ba lô cùng súng, gạo khỏi vai, ngồi xuống, tôi đã thấy Tiểu đội trưởng moi ra khỏi túi cóc ba lô một vốc chanh non, trông có vẻ “họ hàng”, đồng lứa với quả chanh tôi nuốt chiều hôm trước. Tiểu đội trưởng cười hì hì, giải thích: “Đêm qua, tớ thấy chị chủ nhà soi đèn ra vườn đếm chanh. Tớ đoán là chị kiểm kê số quả còn sót lại. Tớ lo, chị mà báo đại đội trưởng thì... chết cậu. Hóa ra không phải! Cậu đi trước không để ý. Sáng nay, chị đã đuổi theo đại đội mình. Chị bê nửa rá chanh non, phân phát dọc đội hình, nhét vào túi mình một nắm to hơn. Chị chỉ bảo: “Nhà tui chả có gì cho mấy chú”. Nghĩa là không phải chỉ cho mình cậu. Nhưng cảm ơn cậu, vì nhờ cậu ăn trộm, cả đại đội có chanh ăn”.

Được chia phần chanh, tôi thở phào nhẹ nhõm, trong lồng ngực tự nhiên nghe vang lên câu thơ đã phổ nhạc, được hát suốt hai năm qua: “Hai đứa ở hai đầu xa thẳm, đường ra trận mùa này đẹp lắm, Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây...”.

Mà đúng là con đường đẹp thật! Đẹp vì ngay khi đoàn quân bớt tiếng trò chuyện thì mấy bụi cây ven đường chợt vẳng lên tiếng ve kêu. Tiếng ve rất thanh, nghe như tiếng nhị. Không rè rè, ồn ào như tiếng ve sầu, chắc chắn đó là tiếng ve kim. Liền lúc đó có mấy chàng lính tiểu đội khác phía đầu đội hình lại phát hiện ra một gốc đào rừng. Trên một cành cao khô gầy vẫn còn nhấp nháy mấy bông hoa đào nhỏ xíu. Mọi người đoán, chắc là một giống đào miền Trung nở vớt. Có chàng lính lãng mạn định leo lên bẻ cành đào để găm vào vành mũ cối. Chàng trai liền bị đồng đội túm lưng kéo lại. Anh đại đội phó, người bị chúng tôi vu cho tội tỏ tình trên sân ga Hàng Cỏ, rút dao phát quang mấy bụi cây để những người đi qua đều nhìn thấy hoa đào.

Mấy bông hoa đào nhỏ bé không ngờ có giá trị lan tỏa rất mạnh. Một chàng lính sinh viên trường nông nghiệp lập tức thốt lên: “Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Mọi người tranh luận: Xuất xứ hai câu lục bát thế nào, thơ ấy là thơ Việt Nam hay thơ đời Đường-Trung Quốc. Mọi người chỉ im lặng tán đồng khi một chàng lính sinh viên ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp lên tiếng phán rằng, đó là câu trong "Truyện Kiều", đoạn Nguyễn Du tả cảnh Kim Trọng sau nửa năm về chịu tang chú, quay lại tìm Thúy Kiều mà không thấy, rằng lục bát là thể thơ thuần Việt, Tàu không có. Còn liên quan đến Tàu là do Nguyễn Du viết câu này trên cơ sở điển tích Đường thi, mượn ý một bài thơ của Thôi Hộ đời Đường, nguyên tác là “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong”. Sinh viên văn đã nói thì mọi người phải tin, không ai dám nghi ngờ. Một chàng sinh viên trường giao thông lại đặt câu hỏi: Hoa đào nở mùa xuân sao lại “cười” với gió mùa đông? Đến câu hỏi này thì chàng sinh viên văn lúng túng. Ngay lúc đó có giọng xứ Nghệ vang lên: “Ta đến hỏi cụ Nguyễn Du. Mộ cụ nằm rất gần đây, đường chim bay chỉ bay dăm phút”. Nghe nói thế, tất cả đều bàng hoàng. Hóa ra, chúng tôi đang đi trên quê nội của đại thi hào, mảnh đất đã nảy sinh câu thơ Tố Hữu: “Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/ Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều”. Anh đại đội phó, chỉ huy đoàn hành quân từ phía sau đi lên, đã nghe thủng câu chuyện thì phải. Anh chen lời động viên, nghe rất “chính trị viên”: “Thôi, chiến thắng trở về, chúng ta sẽ quay lại viếng mộ cụ”. “Nhưng mộ cụ bé, dựng sơ sài lắm!"-chàng trai xứ Nghệ lại lên tiếng-"Tôi nhà gần đây, đã đến thắp hương rồi”. Đại đội phó ngắt lời: “Vậy thì, hẹn ngày chiến thắng, chúng ta sẽ về tu bổ mộ cụ Nguyễn Du. Bây giờ, tất cả đứng dậy, lên đường!”.  

Lệnh hành quân của chỉ huy khiến cả đội hình trở lại tư thế nghiêm trang. Chỉ còn nghe tiếng bi đông, bát sắt va vào súng AK, thùng đạn. Đường số 1 qua huyện Nghi Xuân trải dài, hun hút xuôi về Nam. Chúng tôi đi về phía có tiếng nổ. Mùa xuân năm 1972 trời ẩm, vẫn có lúc lất phất mưa xuân. Nhưng mặt trận đã rất gần. Mọi người im lặng bước, như đang thầm nhắc nhau: Hãy gác lại những câu thơ Kiều! Chúng ta sẽ chiến thắng, sống, trở về viếng mộ cụ Nguyễn Du!