Đúc kết về phẩm giá, bản lĩnh, dũng khí, tâm hồn Việt Nam, cách đây tròn 60 năm, khi sáng tác bài thơ “Đi trên mảnh đất này”, nhà thơ Huy Cận “chưng cất” thành 4 câu thơ: “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững/ Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa/ Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng/ Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa”. 

Nếu “lưng đeo gươm” - biểu tượng cho ý chí quật cường, tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ, giữ gìn toàn vẹn non sông gấm vóc, thì “tay mềm mại bút hoa” - biểu tượng cho tâm hồn lãng mạn, yêu quý chữ nghĩa, văn chương, trí tuệ, nói rộng ra là coi trọng giá trị, tinh hoa văn hóa đã làm nên phẩm chất, cốt cách con người và dân tộc Việt Nam. 

Một nghi lễ độc đáo trong Lễ hội Gióng đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, TP Hà Nội) nhằm tôn vinh truyền thống đánh giặc giữ nước bất khuất của tổ tiên, ông cha ta. Ảnh: THẢO NGỌC

Hiếm có dân tộc nào trên thế giới có đặc điểm lịch sử như dân tộc Việt Nam. Theo sử liệu ghi chép lại, nếu tính từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần vào khoảng cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên đến nay, dân tộc ta đã phải trực tiếp đấu tranh trong 13 thế kỷ, trong đó có gần 100 cuộc khởi nghĩa quy mô lớn và hơn 10 cuộc kháng chiến để bảo vệ núi sông, bờ cõi. Như vậy, trong tiến trình lịch sử, dân tộc ta đã dành tới gần 60% thời gian để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giữ nước, bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc.

Sở dĩ dân tộc Việt Nam trải qua những giai đoạn lịch sử ngặt nghèo nhất, số phận dân tộc có lúc tưởng như “ngọn đèn leo lắt” trước các cơn cuồng phong dữ dội của thời cuộc, điển hình như thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc, nhưng người Việt và văn hóa Việt không bị đồng hóa bởi thế lực ngoại bang thống trị, vì ông cha ta đã kiên quyết, kiên trì thực hiện một chân lý bất di bất dịch: Nước có thể mất, nhà có thể tan, nhưng nhất định không thể để mất tổ tiên, gia phả, dòng họ, không thể mất phong tục, tập quán của ông cha để lại.

Có một điều đặc biệt là hầu như trong các thời kỳ của lịch sử Việt Nam, gắn liền với những chiến tích vẻ vang, những trận đánh oai hùng, những chiến công oanh liệt, những võ tướng, văn nhân lừng danh là những tác phẩm văn chương, thi phú có thể liệt vào dạng “thiên cổ hùng văn”, như: “Nam quốc sơn hà” (tương truyền của Lý Thường Kiệt), “Tụng giá hoàn kinh sư” (Trần Quang Khải), “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi), “Hịch xuất quân” (Quang Trung-Nguyễn Huệ), “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh)...

Theo nhà văn hóa, Giáo sư Trần Văn Giàu (1911-2010), trong các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước luôn được xếp ở vị trí đầu tiên. Nó trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là “động lực tình cảm lớn nhất, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc”.

Nhờ có truyền thống yêu nước với tư cách là hạt nhân tinh túy của văn hóa Việt xuyên suốt hàng nghìn năm, chúng ta đã kết thành tinh thần Bạch Đằng, hào khí Đông A, dũng khí Sát Thát, lời thề Lũng Nhai, chí khí Đống Đa, sức mạnh Điện Biên Phủ để bảo toàn linh khí giang sơn, hình hài đất nước và nền văn hiến, văn hóa, văn minh Việt trước âm mưu thôn tính, xâm lược của các thế lực ngoại bang hiếu chiến cường bạo nhất thời đại từ cổ tới kim, từ Tây sang Đông.

Người dân phường Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) múa rồng truyền thống tại Lễ hội Tịch điền - lễ hội tôn vinh nghề nông có bề dày lịch sử nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Ảnh: THẢO NGỌC

Tình yêu nước nồng nàn của các thế hệ người Việt Nam được “truyền lửa” từ lời sấm truyền “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, từ ý chí tự cường “Như nước Đại Việt ta ngày trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi), từ bản lĩnh quật cường “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng... Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Quang Trung-Nguyễn Huệ) đến dũng khí can trường: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” (Hồ Chí Minh)...

Không ngẫu nhiên mà trong cuộc tiếp xúc, trò chuyện với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 9-11-1995 tại Hà Nội, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara từng thừa nhận, cuộc chiến tranh của Mỹ thua tại Việt Nam là thua về văn hóa. Bởi như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: “Danh dự, sức mạnh độc lập, tự do, sức mạnh văn hóa của một nước không thể đo bằng cây số vuông”. Lời khẳng định đanh thép đó hàm ý sức mạnh của một dân tộc không hẳn xuất phát từ diện tích lãnh thổ, tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự, mà bắt nguồn từ chiều dài lịch sử và bề dày văn hóa truyền thống của dân tộc đó.

Dẫn lại những điều trên để thấy, việc coi trọng văn hóa nói chung, tôn trọng giá trị văn hóa truyền thống yêu nước nói riêng, “thực chất là huy động sức mạnh của mấy mươi thế kỷ ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu” (GS Trần Văn Giàu) trong công cuộc giữ gìn non sông, dựng xây và phát triển đất nước.

Một dân tộc trường tồn nhờ sức mạnh văn hóa, lớn lên và trưởng thành từ chiều dài lịch sử, chiều sâu nền văn hóa và chính văn hóa đã góp phần làm rạng rỡ non sông gấm vóc, làm đẹp quê hương xứ sở, hình thành bản lĩnh, cốt cách, tâm hồn người Việt thì không có lý do gì lại không coi trọng và tôn vinh văn hóa, vì văn hóa là mạch nguồn làm nên sức sống, sức mạnh Việt Nam suốt hàng nghìn năm qua.

Với ý nghĩa đó, việc chọn Ngày Văn hóa Việt Nam 24-11 hằng năm cũng không ngoài mục đích bày tỏ sự tri ân quá khứ, tôn vinh lịch sử truyền thống dân tộc, qua đó tiếp tục khơi nguồn, bồi đắp và phát huy giá trị, sức mạnh văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

“Văn hóa là sản phẩm đặc biệt của con người, của dân tộc. Giữ gìn và phát huy sức mạnh của văn hóa là lĩnh vực mà bất cứ quốc gia nào cũng phải quan tâm bởi nhiệm vụ này gắn liền với sự phát triển xã hội, làm phong phú đời sống tinh thần của người dân và sự vận hành hiệu quả của nhà nước” (phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ ngày 30-12-2024). 
(còn nữa)