QĐND Online - Huyện Anh Sơn (Nghệ An) ngày nay có diện tích tự nhiên 60.000 ha, dân số hơn 113.000 người, trong đó có 7.800 người dân tộc Thái. Thế núi, thế sông “tiến có thể công, phòng có thể thủ” của vùng đất này làm nên một Anh Sơn “phên dậu”, đất đứng chân của các anh hùng cứu nước và cũng là nơi sinh ra nhiều anh hùng, hào kiệt.
Xa xưa, Anh Sơn vốn là phủ. Đời Lê Thánh Tông gọi là phủ Anh Đô, sau kiêng tên mẹ Anh Tông đổi gọi là Yêng Đô. Triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3, đổi lại là phủ Anh Sơn, bao gồm: Nam Đường (thuộc Đường là Hoan Châu, thuộc Minh gọi là Thạch Đường, đời Lê đổi là Nam Đường), Hưng Nguyên, Thanh Chương, Chân Lộc (đời xưa gọi là Nghi Chân, thời thuộc Minh gọi là Chân Phúc, đời Tây Sơn gọi là Chân Lộc, trước thuộc phủ Đức Thọ, Minh Mệnh thứ 3 đời Nguyễn thuộc phủ Anh Sơn). Thời Pháp thuộc, bỏ phủ lập thành các huyện: Hưng Nguyên, Thanh Chương, Anh Sơn. Năm 1963, Nhà nước ta tách Anh Sơn ra làm hai huyện: Đô Lương và Anh Sơn.
Địa dư Anh Sơn núi sông quấn quýt, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú. Nằm hai bên hữu, tả sông Lam, núi non Anh Sơn nơi thì nhấp nhô trùng điệp, nơi thì dàn trải xen với đồng bằng. Nổi tiếng nhất là ngọn núi Kim Nhan- một “An Nam tiểu thái sơn”, cao 1340m. Tiến sĩ Bùi Dương Lịch, tác giả của “Nghệ An ký” viết về ngọn núi này như sau: “Núi nằm ở sách kệ trường, xã Tri Lễ tại biên giới phía tây huyện. Mạch của nó chảy từ trong dãy núi lớn lại, đến đó đột nhiên nổi lên một ngọn, đầu nhọn đẹp, cao ngất trời, trông như một búp măng mà xung quanh lại bao bọc các núi nhỏ, lại trông giống một đóa hoa sen, trên cùng có một hang đá, đến gần trông như miệng cá và hang rất sâu, chưa có dấu chân người”. La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có thơ vịnh ngọn núi này, dịch nghĩa: Như ngọn bút trỏ lên trời/Như hồ tiên rơi xuống thế gian/Thu hết khí tinh anh/Thực là nơi núi Thái Sơn nhỏ của An Nam… Còn người dân trong vùng lưu truyền huyền thoại về núi Kim Nhan như sau: Xưa nay thường có một luồng ánh sáng hồng rọi xuống núi đó, có khi dài như dải lụa, có khi to như tán xe, xuyên từ miệng vào trong hang. Đến gần thì thấy ánh sáng rực trời, lại có khi có tiếng như sấm. Có lẽ các bậc vua chúa, các vị tướng văn, tướng võ lúc chết thì tinh khí anh quy tụ ở đây nên người đời gọi là núi thu tinh…
Sông Lam là một con sông lớn nhất chảy qua địa phận Anh Sơn với chiều dài 92 km. Địa đầu của Anh Sơn là Tam Giang, nay là xã Tam Sơn- điểm hợp của hai nguồn sông, nguồn Tương và nguồn Hiếu. Nguồn Tương từ dòng Nậm Mộ chảy qua các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông về. Nguồn Hiếu chảy qua các huyện Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ về. Hai nguồn gặp nhau ở Tam Giang, hợp thành sông Cả (sông Lam).
Anh Sơn, từ xưa đến nay thực sự là đất “phên dậu”, “đất đứng chân” của các anh hùng cứu nước, là nơi đã sản sinh ra biết bao anh hùng, hào kiệt, làm rạng rỡ truyền thống quê hương. Trong cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược ( 1418-1427), sau khi hạ thành Trà Lân, Lê Lợi đã kéo đại quân về đóng ở ải Khả Lưu (Vĩnh Sơn, Anh Sơn). Nghe tin , nghĩa quân Lam Sơn đánh thành Trà Lân, hai tướng giặc là Trần Trí và Phương Chính kéo quân Minh từ thành Nghệ An lên cứu, nhưng mới đến Khả Lưu thì ải đã bị nghĩa quân chiếm mất. Chúng đành hạ trại tìm cách chiếm ải. Đứng trước quân địch đông, Lê Lợi đã dùng kế nghi binh lừa địch: “Ban ngày thì dựng cờ đánh trống, ban đêm thì đốt lửa”; đồng thời phái một lực lượng tinh nhuệ vượt sông Lam “phục sẵn nơi hiểm yếu”. Nơi hiểm yếu này là bãi Sở (xã Long Sơn, Anh Sơn), nằm ở bờ nam sông Lam, phía dưới có bãi Phá Lữ (nơi quân giặc hạ trại). Bãi Sở khá rộng, ba phía có sông suối bao bọc: Phía bắc giáp sông Lam, khe Sở (hay khe Đà Cu) bọc phía đông và phía nam, phía tây có dãy núi Pheo che chở. Mờ sáng hôm sau, địch từ Phá Lữ nhằm đánh nghĩa quân giữ ải Khả Lưu. Đoán trước ý đồ của địch, Lê Lợi tổ chức một trận địa mai phục. Quân địch vượt sông sang bờ bắc, đánh thẳng vào doanh trại nghĩa quân. Quân ta vừa cầm cự vừa lui quân để nhử địch… Khi toàn bộ quân địch lọt vào trận địa mai phục, nghĩa quân bất thình lình xông ra; đạo quân tinh nhuệ được bí mật ém sẵn ở bãi Sở cũng đánh úp vào doanh trại giặc ở Phá Lữ, bên bờ nam. Quân địch bị thiệt hại rất nặng “bị chém đầu và chết đuối kể đến hàng vạn”.
Trong cuộc đấu tranh cách mạng chống thực dân, đế quốc, giành độc lập tự do cho dân tộc, tiếng trống Xô-viết 1930 rền vang trên vùng đất Anh Sơn. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những hang động ở Anh Sơn trở thành những kho trạm, công binh xưởng.. là nơi chứa đựng và sửa chữa vũ khí cho quân và dân ta đánh giặc. Vùng Dừa của Anh Sơn có sân bay dã chiến, tạo điều kiện thuận lợi cho không quân ta cất cánh nhanh, đánh bại máy bay, tàu chiến Mỹ trên địa bàn Quân khu 4. Mặc dù là một trong những vùng đất trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, nhưng nhân dân Anh Sơn vẫn “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, với 20.000 thanh niên tòng quân, cứu nước, 29 Mẹ Việt Nam Anh hùng, 6 anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND). Huyện Anh Sơn và hai xã Trường Sơn, Phúc Sơn được Nhà nước tuyên dương Danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương mạnh giàu hiện nay, huyện Anh Sơn phấn đấu đến năm 2010 đạt tốc độ tăng trưởng 14-14,5%, thu nhập bình quân đầu người 15-16 triệu đồng, tổng sản lượng lương thực đạt 59.000 tấn, đưa giá trị sản xuất: 35-40 triệu đồng/ha/năm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực (nông-lâm thủy sản chếm 36%, công nghiệp xây dựng chiếm 34%, thương mại 30%), 31 trường học đạt chuẩn quốc gia, 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 8 xã đạt chuẩn văn hóa để huyện đạt chuẩn văn hóa vào năm 2010 và trở thành một huyện khá trong các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An./.
THU TRANG