Gia đình có 6 liệt sĩ

Con gái nuôi của bà Lại Thị Kim Túy đang bán hàng ở quầy tạp hóa nhỏ phía trước nhà, thấy chúng tôi đến, chị bước vào trong gọi lớn: “Má ơi, có khách tới!”. Lát sau, bà Túy từ căn phòng phía sau chậm rãi đi ra. Người phụ nữ gần 80 tuổi có dáng người cao, gầy. Bà chống nhẹ tay vào thành ghế rồi mời chúng tôi ngồi xuống bộ bàn ghế gỗ đã sẫm màu theo năm tháng. “Uống ly trà con nghe”, bà Túy cười hiền.

Trên 4 bức tường nhà là hàng chục huân chương, huy chương, bằng khen, giấy ghi nhận và ảnh chụp với đồng đội, đồng chí qua nhiều thời kỳ. Ánh mắt chúng tôi dừng lại thật lâu trước 6 tấm bằng "Tổ quốc ghi công" được treo cạnh nhau. 6 liệt sĩ ấy là người cha, 3 người anh trai, người em gái và người chồng của bà. Cha của bà là Lại Bá Y (sinh năm 1907), thuộc Đội 5 Biệt động Sài Gòn, hy sinh năm 1968. Trong lúc làm nhiệm vụ, ông bị địch pháo kích vào căn cứ. Anh cả Lại Bá Huynh (sinh năm 1938), hy sinh năm 1966 khi tham gia đánh đồn ấp Lập Điền, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là xã Hậu Nghĩa, tỉnh Tây Ninh). Người anh thứ hai Lại Bá Hộ (sinh năm 1942), hy sinh năm 1962, trong một trận chống càn. Anh trai thứ ba Lại Bá Nghi (sinh năm 1945), hy sinh năm 1972, trong một đợt chống càn, bị địch bắn gãy chân. Địch cột chân ông rồi kéo đi. Khi địch không thể kéo được nữa thì bắn vào tim ông. Em gái Lại Thị Út (sinh năm 1952), hy sinh năm 1968 do trúng pháo kích địch khi trên đường trở về sau chuyến công tác. Người chồng Phạm Văn Mại (sinh năm 1938) hy sinh năm 1967, ngã xuống trong một chuyến trinh sát, bị trực thăng địch phát hiện và xả đạn...

 Bà Lại Thị Kim Túy (ngoài cùng, bên phải) trong những ngày chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đỗ Thị Cúc (thứ hai, từ phải sang). Ảnh do nhân vật cung cấp

Thấy chúng tôi lặng người trước bức tường, bà Túy khẽ nói: “Khi mẹ mất, căn nhà chỉ còn cô...”. Nói rồi bà im lặng. Thế rồi những năm tháng sau này, bà Túy sống đúng với điều mình trăn trở, canh cánh trong lòng. Nếu ngày trước bà cầm súng bước vào chiến tranh, thì những năm tháng hòa bình, bà lại bước vào một hành trình đi tìm những người chưa kịp trở về. Có khi, hành trình ấy bắt đầu từ một cái tên viết chưa đủ, một địa danh đã đổi khác hay một lời kể ngắt quãng của đồng đội cũ. Bà lần theo từng manh mối, gặp từng nhân chứng, đối chiếu từng thông tin. Với những gia đình gặp khó khăn trong việc xét nghiệm ADN, bà sẵn sàng hỗ trợ thủ tục, kinh phí. Bà Túy bảo: “Người đã hy sinh xứng đáng được gọi đúng tên, còn người ở lại cũng cần biết tin để thôi ngóng đợi”.

Nhắc đến 38 đồng đội hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên địa bàn phường Phú Thạnh (TP Hồ Chí Minh), bà Túy vẫn không giấu được nỗi day dứt. Bởi chính bà và đồng đội là những người trực tiếp chôn cất các liệt sĩ năm ấy. Rồi đơn vị rút đi, chiến tranh cuốn mọi người sang những trận đánh khác. Khi hòa bình lập lại, bà trở về thì nơi ấy đã thành khu dân cư. Có người bảo mộ đã được bốc. Bà hỏi bốc đi đâu, an táng ở nghĩa trang nào, là mộ có tên hay mộ vô danh... thì không ai trả lời được. Mãi sau này mới rõ, thời điểm người dân xây nhà, nhiều người không hề biết dưới nền đất ấy từng có các liệt sĩ nằm lại. Sự thật ấy khiến bà Túy đau đáu suốt nhiều năm. Cùng đồng đội và chính quyền địa phương, bà kiên trì thu thập tài liệu, hoàn thiện hồ sơ để xác nhận nơi đây là địa điểm có 38 chiến sĩ hy sinh. Đến nay, hằng năm vào ngày 13 tháng Giêng, lễ giỗ chung vẫn được tổ chức đều đặn, nhưng hài cốt của các liệt sĩ vẫn chưa thể trở về.

Nếu mẹ Cúc còn sống thì phải chăm lo chu đáo...

Nhắc đến những người đã ngã xuống, bà Túy nhớ nhiều nhất đến Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đỗ Thị Cúc. Năm 1962, khi tham gia cách mạng tại xã Tân Mỹ, bà Túy phụ trách công tác thanh niên. Khi ấy, Hoàng Đình Minh, con trai út của mẹ Cúc ngày nào cũng nằng nặc xin nhập ngũ. Hai anh trai đã hy sinh, trong nhà chỉ còn mình Minh là con trai. Bà Túy từng khuyên Minh ở lại: “Nhà em mất nhiều quá rồi, ở nhà lo cho má”. Nhưng Minh chỉ để lại nụ cười và quyết tâm nhập ngũ. Một tuần sau ngày nhập ngũ, Minh hy sinh... Câu chuyện tưởng đã khép lại theo năm tháng, nhưng 30 năm sau, nó lại trở thành lời dặn cuối cùng của mẹ bà Túy.

 Bà Lại Thị Kim Túy.

Năm 1992, trước lúc qua đời, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Cẩm (mẹ ruột bà Túy) nắm chặt tay con gái: “Con cố tìm cho được mẹ Cúc. Nếu bà ấy còn sống thì phải chăm lo chu đáo...”. Lời dặn ấy theo bà Túy suốt nhiều năm sau. Bà tự lái chiếc xe máy cũ đi tìm mẹ Cúc. Bà cứ đi, cứ chỗ nào có thông tin về mẹ Cúc là bà đều tìm đến. Có chuyến đi trở về tay trắng. Có địa chỉ vừa đến nơi thì người cần tìm đã chuyển đi từ lâu. Bà lại đi tiếp... Và năm 1995, bà Túy tìm được mẹ Cúc ở Tây Ninh. “Thấy mẹ nằm trên giường, người chỉ còn da bọc xương, cô không cầm được nước mắt”, bà Túy kể rồi quay mặt đi, tay run lên... Một lúc sau, bà Túy mới nói tiếp về mong muốn đưa người mẹ Việt Nam anh hùng đã ngoài 80 tuổi cùng con gái và hai cháu ngoại bị bệnh hiểm nghèo từ Tây Ninh lên TP Hồ Chí Minh. Chuyện nghe có vẻ đơn giản nhưng không phải dễ. Chính quyền địa phương khi ấy còn nhiều băn khoăn, nhưng bà Túy kiên trì trình bày kế hoạch chăm sóc, cam kết lo nơi ăn ở, chữa bệnh và làm mọi thủ tục cần thiết. Qua nhiều ngày kiên trì, bà Túy được chính quyền địa phương và gia đình mẹ Cúc đồng ý. Thế là bà đón cả gia đình mẹ Cúc về sống trong ngôi nhà của mình.

Suốt 5 năm (từ 1995 đến 2000), bà Túy chăm mẹ Cúc như chăm chính mẹ ruột. Từ bữa ăn, viên thuốc đến những lần đưa mẹ đi khám bệnh, bà đều tự tay lo liệu. Khi mẹ Cúc qua đời, bà lo hậu sự xong nhưng không dừng lại. Bà Túy giữ con gái mẹ Cúc là chị Hoàng Thị Ghì cùng hai người con tiếp tục ở lại nhà mình. Bà còn tìm việc làm, lo bảo hiểm y tế cho nhà chị Ghì. Tuy nhiên chị Ghì muốn được trở về quê. Thế rồi, bà Túy lại vận động bà con, đồng đội góp sức dựng một căn nhà tình thương để 3 mẹ con có chỗ ở ổn định. “Không có cô Túy thì mẹ con tôi không biết sống sao”, chị Nguyễn Thị Nhựt, cháu ngoại mẹ Cúc, nói với chúng tôi khi nhắc về người phụ nữ đã gắn bó với gia đình mình hơn 30 năm qua.

Tiếp tục san sẻ với những người khó khăn

Điện thoại của bà Túy lại đổ chuông... Đầu dây bên kia là một người báo có hoàn cảnh khó khăn cần giúp. Bà lắng nghe rất lâu, rồi cầm cây bút bi ghi thêm một dòng vào cuốn sổ nhỏ đặt cạnh ấm trà. Cuốn sổ đã sờn góc, kín những nét chữ nhỏ. Có trang ghi tên một gia đình liệt sĩ; trang lại có địa chỉ của cựu chiến binh... kèm vài dòng nhắc việc. Bà Túy không gọi đó là sổ làm việc. “Ai cần gì thì cô ghi lại, làm được đến đâu thì làm”, bà Túy nói.

Nguồn tiền bà dùng để giúp người, giúp đời đều từ lương hưu, trợ cấp thương binh, trợ cấp chất độc da cam và khoản trợ cấp tuất của người chồng liệt sĩ. Người ta thường nói đó là phần bù đắp của Nhà nước dành cho những mất mát của bà. Còn bà lại coi đó là cách để tiếp tục san sẻ với những người còn khó khăn.

Trong cuốn sổ nhỏ đặt cạnh ấm trà, cái tên Lê Trung Nghĩa được bà nhắc đến nhiều lần. Thấy vậy, chúng tôi tìm đến ông Nghĩa. Gặp chúng tôi, người cựu chiến binh từng tham gia cách mạng từ năm 1971 vẫn gọi bà Túy bằng một tiếng “chị” đầy thân thương. Ông kể, những ngày mới xuất ngũ, cuộc sống vô cùng chật vật. Bà Túy khi ấy là Bí thư chi bộ khu phố đã động viên ông đi học, tạo điều kiện để có công việc ổn định. Nhưng biến cố lớn nhất đến sau đó, khi gia đình lâm vào cảnh nợ nần hơn 140 triệu đồng, khiến ông Nghĩa gần như tuyệt vọng.

Cho đến khi biết mọi khoản nợ được thanh toán, ông Nghĩa mới hay người đứng ra trả thay mình là “chị Sáu Túy”. Khi chúng tôi hỏi: "Vì sao cô lại giúp nhiều đến vậy?", bà Túy bảo: “Cô không muốn người ta coi thường gia đình anh”. Đó là số tiền rất lớn đối với một người sống bằng lương hưu và trợ cấp. Bà Túy không kể mình đã đắn đo bao lâu. Ông Nghĩa cũng không biết bà Túy đã xoay xở bằng cách nào. Vượt qua khó khăn, ông Lê Trung Nghĩa nay là Bí thư Chi bộ khu phố 9, phường Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. “Chị Túy lo cho tôi cả lúc gia đình có tang. Ba tôi mất, chị đứng ra cùng gia đình lo liệu mọi việc. Không có chị, tôi không có được ngày hôm nay”, ông Nghĩa chia sẻ.

Nhìn lại hơn 30 năm qua, những việc bà Túy làm nhiều đến mức chính bà cũng không nhớ hết: Xây trường mẫu giáo ở quê, vận động xây nhà tình nghĩa, tặng bảo hiểm y tế cho người nghèo, chăm lo cho cựu chiến binh, trẻ em khuyết tật, hỗ trợ quỹ khuyến học, vận động hiến đất mở đường... Mỗi việc chỉ là một mảnh ghép nhỏ, nhưng ghép lại thành một cuộc đời gần như chưa bao giờ thôi nghĩ cho người khác...

Trong ngày kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-2025) diễn ra tại TP Hồ Chí Minh, thấy bà rạng rỡ trong tà áo dài, ngồi trên hàng ghế danh dự dành cho đại biểu, chúng tôi chực trào nước mắt. Trong hàng trăm người vinh dự có mặt trên hàng ghế đại biểu, có một má Sáu Túy bền bỉ làm những việc tử tế giữa đời thường.