Là “tân binh” của nghề báo, của Trường Sa, lại đi cùng Tổng Tham mưu trưởng, trong tôi cứ đan xen thổn thức và âu lo. Thổn thức và xốn xang, vì lần đầu được đặt chân lên vùng biển, đảo thiêng liêng và xa xôi của Tổ quốc. Âu lo là phải viết làm sao cho đúng tầm chuyến công tác quan trọng của Tổng Tham mưu trưởng; tìm hiểu và viết sao cho để không “dẫm chân” bao đồng nghiệp đã sớm ra tác nghiệp Trường Sa.
Để thực hiện nội dung, yêu cầu thứ nhất, tôi như người tháp tùng lặng lẽ của Tổng Tham mưu trưởng. Tàu cập cảng Trường Sa vào sáng sớm. Bước chân lên cầu cảng, đầu tiên, Tổng Tham mưu trưởng dành cho cán bộ, chiến sĩ đảo xa một nụ cười hồn hậu, bằng những cái bắt tay thân thiện, ấm áp. Tất cả tay trong tay, Thủ trưởng chẳng để sót một ai, tất cả cứ ngời lên tình cảm thân thương đất liền - hải đảo.
Sau những cái bắt tay nồng ấm, tôi thấy Tổng Tham mưu trưởng hướng ánh mắt vào những tảng bê tông ven đảo, sát cầu cảng. Ở những tảng bê tông “lộ thiên”, những đoạn thép đã bị nước biển ăn mòn, trở nên lỗ chỗ, dị dạng. Nhìn những đoạn thép đó, nét mặt Tổng Tham mưu trưởng hiện rõ trạng thái ngẫm nghĩ sâu xa một điều gì? Mới đầu, tôi trộm nghĩ và nghĩ “oan” cho người giữ đảo, có lẽ chỉ huy đảo sẽ “được” Tổng Tham mưu “nhắc nhở” về những tảng bê tông, những thanh sắt biến dạng đó!
Nhưng hoàn toàn không phải, người giữ đảo được “giải oan” trong tôi, khi nghe Tổng Tham mưu trưởng nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ của các lực lượng chốt giữ và làm nhiệm vụ trên đảo. Điều sâu xa của ánh mắt, của sự ngẫm nghĩ trên nét mặt Tổng Tham mưu trưởng được “giải mã”, qua lời tâm sự của Thủ trưởng: “Các đồng chí, anh em ạ, khi tôi là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã ra Trường Sa, tàu cập cảng cũng đúng thời gian như hôm nay. Hôm đó, tôi thấy những thanh thép nhô lên ở các tảng bê tông phế liệu mà bộ đội đảo tận dụng để chắn sóng cho bờ đảo ở khu vực cầu cảng. Hôm nay nhìn lại, dẫu chưa đến một năm, mà những thanh thép đó đâu còn nguyên hình tròn trịa, tất cả đã bị nước biển, gió biển gặm nhấm, bào mòn. Còn với các đồng chí, qua một vòng thăm các phân đội, lực lượng, tôi vui, xúc động và tin tưởng lắm. Cũng từng ấy thời gian, các đồng chí đã tôi luyện trong vất vả, gian khó, trong khắc nghiệt nắng gió, bão tố, để bền, để mạnh hơn sắt thép. Các đồng chí đã thực sự coi đảo là nhà, biển là quê hương, mà chăm chút củng cố, trồng thêm nhiều cây xanh, để Trường Sa thực sự là pháo đài xa, pháo đài xanh của Tổ quốc.
Lời tâm sự của Tổng Tham mưu trưởng lan tỏa thật nhanh và lắng đọng trong cán bộ, chiến sĩ Trường Sa, các thành viên đoàn công tác. Với tôi, lời tâm sự lắng đọng ấy chính là chi tiết đắt, chi tiết lắng đọng đầu tiên ở Trường Sa. Tôi thầm cảm ơn Tổng Tham mưu trưởng ở sự quan sát và so sánh, suy luận ấy. Nó thật tinh tế, dễ đi vào lòng người, là nhà báo rất cần có con mắt quan sát và so sánh, suy luận như vậy. Cũng vì thế mà trong tôi bớt đi cái âu lo ban đầu. Tôi tự nhủ, hãy từ những chi tiết mà xâu chuỗi nên hồn cốt cho bài viết.
 |
|
Ảnh 1. Trung tướng Lê Văn Dũng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thăm bộ đội Trường Sa.
Ảnh 2. Trung tướng Lê Văn Dũng, Tổng Tham mưu trưởng thăm đảo Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa (năm 2000).
|
Ngẫm nghĩ, tâm sự về những thanh thép và người chiến sĩ Trường Sa thật giàu hình ảnh như vậy, rồi Tổng Tham mưu trưởng nói những điều gan ruột:
- Tôi đã đọc khá nhiều tài liệu, bài viết về Trường Sa, Hoàng Sa. Càng đọc, càng khâm phục về tầm nhìn xa, trông rộng, tầm nhìn rất sớm, rất chiến lược của các thế hệ ông cha trong hành trình xác lập chủ quyền ở Trường Sa, Hoàng Sa. Chỉ có tầm nhìn như vậy, ông cha chúng ta mới bất chấp muôn vàn hiểm nguy, vượt mọi gian truân để nhanh chân ra Trường Sa, Hoàng Sa, khi nơi đây từ ngày kiến tạo trái đất vẫn chưa một dấu chân người.
“Thương cha ông thuyền nan đè sóng dữ / Nhìn sao trời mà thẳng hướng Hoàng Sa, Trường Sa”. Trên con tàu hiện đại ra đảo, tôi nhớ lại hai câu thơ ấy và ngẫm nghĩ - những tiền bối vượt biển, những thuyền nan mỏng manh thật nhỏ bé trước đại dương, nhưng đã làm được những việc thật vĩ đại, thật chiến lược trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Tổng Tham mưu trưởng khái quát về vai trò to lớn của đại dương nói chung; của Biển Đông, thềm lục địa, vùng Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng, với nhiều cứ liệu, số liệu, tiềm năng sống động và thuyết phục. Qua đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Trường Sa và mọi thành viên đoàn công tác càng hiểu sâu sắc về giá trị, tầm nhìn chiến lược và vĩ đại của ông cha đã sớm xác lập được chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa.
Theo Tổng Tham mưu trưởng, để giữ cho vững, cho thiêng tầm nhìn chiến lược của ông cha, của Đảng, Nhà nước ngày nay về biển đảo, cán bộ, chiến sĩ Trường Sa phải luôn vững vàng về mọi phương diện. Mỗi thành viên các đoàn công tác, cùng mọi người dân Việt Nam hãy luôn dành cho Trường Sa những tình cảm thân thương nhất, sự quan tâm, động viên thiết thực nhất, cho dù là việc nhỏ hay việc lớn, cho dù là vật chất hay tinh thần.
Cuối buổi chiều hôm ấy, khi tham quan khu tăng gia của cụm 3, Tổng Tham mưu trưởng rất ấn tượng khi thấy bộ đội tận dụng những bình nhựa tiếp nước y tế để “truyền nước” cho cây. Tổng Tham mưu trưởng khích lệ: “Công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel đã được anh em vận dụng rất sáng tạo, rất phù hợp ở Trường Sa. Những việc nho nhỏ thế này nhưng lại sáng rõ một tâm hồn, một tình yêu Trường Sa”.
Cũng là những việc nho nhỏ thôi, mà trước lúc ăn cơm tối, Tổng Tham mưu trưởng thông báo cho anh em phóng viên: “Ký giả nào lần đầu tiên ra Trường Sa thì tớ mách thế này, ở Trường Sa có giống bàng quả vuông, hoa đẹp như một chùm pháo hoa, nhưng chỉ nở vào ban đêm, như hoa quỳnh. Anh em chịu khó mai phục, chụp lấy mấy kiểu ảnh hoa bàng quả vuông làm kỷ niệm và quảng bá cho Trường Sa”. Mách các nhà báo như vậy, rồi Tổng Tham mưu trưởng liền nhắc nhở: “Có điều nhỏ này nhưng các nhà báo cũng cần lưu ý, là khi viết về cây và hoa quý của đảo, phải viết cho đúng là “Cây bàng quả vuông”. Tớ thấy một số nhà báo viết tắt là “Cây bàng vuông”, “hoa bàng vuông”. Người đọc dễ liên tưởng đến chuyện ngụ ngôn “Con rắn vuông”, thì có người hiểu sai về vẻ đẹp của cây và hoa cây bàng quả vuông đấy!”.
Tổng Tham mưu trưởng nói vậy, cánh nhà báo cười ngất ngây “đáp lễ”. Thủ trưởng nói “điều nhỏ”, nhưng đó chính là yêu cầu đầu tiên của báo chí là phải viết đúng. “Điều nhỏ” ấy lại là bài học lớn của cánh nhà báo chúng tôi, cũng thật lắng lòng!
Sáng hôm sau, đoàn công tác tạm biệt đảo Trường Sa lớn để tiếp tục hành trình đến các đảo của tuyến giữa. Trên tàu Ti Tan, chúng tôi được thông báo “Với các đảo nhỏ, khó vào và các nhà giàn ở thềm lục địa, chỉ có thành phần chính của đoàn công tác mới lên đảo, lên nhà giàn. Còn báo chí và các thành phần khác ở lại tàu”. Thông tin này làm anh em báo chí buồn thiu. Bởi vậy, tôi mạnh dạn lên phòng Tổng Tham mưu trưởng, “tâu” chuyện này. Nghe tôi trình bày, Tổng Tham mưu trưởng đồng cảm: “Báo chí phải thuộc thành phần ưu tiên lên các đảo. Đảo nào càng khó khăn, càng khó vào, thì càng cần báo chí. Như thế, phóng viên mới có nhiều tư liệu để viết, mới phản ánh được tinh thần vượt khó của bộ đội, qua đó xây dựng niềm tin trong nhân dân về bộ đội Trường Sa…”.
Sự đồng cảm và hiểu biết về báo chí của Tổng Tham mưu trưởng làm cánh báo chí chúng tôi lại “mở cờ trong bụng”.
Có sự đồng cảm ấy, chúng tôi mới được vào điểm A - đảo Đá tây, mới được biết ở “rốn” của “rốn bão” này, có thời gian cứ 3 ngày phải thay một lá cờ trên mốc chủ quyền! Được đọc bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của cụ Lý Thường Kiệt, khắc trên bệ mốc chủ quyền. Bài thơ nơi đắc địa, đắc tâm, ai đọc cũng rưng rưng một niềm kiêu hãnh, xúc động; ai đọc cũng thấy Trường Sa thêm thiêng liêng, thêm vững vàng, mãi mãi khắc sâu vào lịch sử, vào cương vực Tổ quốc.
Chuyện “ba ngày phải thay một lá cờ” ở điểm A - đảo Đá Tây, có lẽ chỉ huy đảo cho là “chuyện nhỏ” nên không báo cáo Tổng Tham mưu trưởng? Với tôi, việc ấy thật trách nhiệm, thật thiêng liêng. Vì vậy, tôi đã “tự nguyện” giúp chỉ huy đảo báo cáo bổ sung với Tổng Tham mưu trưởng về việc này. Nghe chuyện đó, Tổng Tham mưu trưởng càng không cho là chuyện nhỏ, nên Thủ trưởng đã trao đổi ngay với đại diện Cục Tuyên huấn là cấp cờ Tổ quốc đặc cách, có dự phòng cao cho Trường Sa.
Có sự đồng cảm ấy, chúng tôi mới được chứng kiến một buổi giao lưu văn nghệ giàu cảm xúc giữa Đoàn nghệ thuật Quân khu 9 và cán bộ, chiến sĩ đảo Đá Đông. “Ơi Trường Sa, quần đảo yêu dấu / Nơi ngàn khơi nghìn trùng sóng vỗ / Khi mùa xuân về, màu xanh bừng dậy / Màu xanh cây lá, màu xanh biển biếc / Và màu xanh áo lính hiên ngang”.
Bài hát “Màu xanh Trường Sa” của nhạc sĩ Lương Ngọc Minh, tôi đã nghe nhiều lần, nhiều ca sĩ hát, nhưng có lẽ hôm ấy nghe ca sĩ và lính đảo Đá Đông cùng hát, là đem đến cho tôi nhiều cung bậc cảm xúc nhất, cả về âm nhạc và tình cảm, tinh thần “đồng nghiệp” của Tổng Tham mưu trưởng.
Chuyện là… Thời đó, cả tòa soạn chưa có máy ảnh kỹ thuật số, cũng chưa ai có điện thoại thông minh. Khi đi Trường Sa, tôi được Phòng biên tập Công tác Đảng, công tác chính trị giao cho chiếc máy ảnh cơ Pentax đã cũ. Biết tôi còn non tay bấm máy, Thượng úy Đoàn Xuân Bộ (phóng viên cùng phòng, nay là Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân) tự nguyện giúp đỡ: “Chụp ảnh ở biển đảo khó hơn trên đất liền, nhất là lấy ánh sáng. Anh em mình ra Hồ Tây, em sẽ bổ túc cho anh cách chụp ảnh ngoài Trường Sa, vì Hồ Tây gần giống như biển đảo…”. Vậy là “thầy-trò” ra ngay Hồ Tây, thực hiện luôn bài huấn luyện chụp ảnh “siêu tốc”, cả ven bờ hồ và trên du thuyền.
Được đồng đội, đồng nghiệp trẻ hỗ trợ, tôi khá yên tâm đeo máy ảnh ra Trường Sa, cùng 10 cuộn phim nhựa. Ngay từ lúc tàu chạy trên sông Sài Gòn, nhất là khi đến các đảo ngoài Trường Sa, vì không kìm chế được cảm xúc, không nỡ từ chối trước mong muốn của cán bộ, chiến sĩ đảo xa, tôi cứ liên thanh bấm máy (trong chuyến đi đó, tôi đã chụp và gửi tặng chiến sĩ Trường Sa gần 200 tấm ảnh, theo hai địa chỉ là ngoài đảo và hậu phương của họ).
Khi đến đảo Đá Đông, thì chỉ còn duy nhất một cuộn phim, tôi đành phải “dè xẻn”, bởi còn 5 đảo, đá và nhà giàn chưa tới. Trong buổi giao lưu văn nghệ ở đảo Đá Đông, tôi chỉ chụp duy nhất 2 kiểu ảnh, rồi ngồi im một chỗ ghi chép. Ở các đảo khác, thấy tôi chụp ảnh lia lịa, mà ở đảo này không thấy bấm máy, Tổng Tham mưu trưởng đến bên hỏi: “Sao Trung tá, nhà báo quân đội hôm nay “án binh bất động thế?”. Tôi ngượng ngùng và báo cáo thực với Tổng Tham mưu trưởng về việc “ăn hoang” của mình. Thủ trưởng cảm thông: “Cứ tiếp tục chụp thoải mái đi, về tàu “đồng nghiệp” sẽ chi viện cho 5 cuộn phim".
Dẫu đã biết Tổng Tham mưu trưởng có thú đam mê chụp ảnh, nên đã coi mình là “nhà báo”, mà dí dỏm, thân mật với tôi như thế! Vậy nhưng, tôi vẫn hoàn toàn bất ngờ, niềm vui và xúc động cứ trào dâng trước tình cảm của Thủ trưởng, trước việc cứu cánh, chi viện kịp thời của “Đồng nghiệp”!
Tôi tự tin, tiếp tục bấm máy ở đảo Đá Đông và các đảo khác trong hành trình. Tự tin, nhưng mới đầu nâng máy khởi động lại việc ghi hình, tay tôi vẫn còn run, mà hoàn toàn không phải vì sợ hết phim và lại càng không phải vì gió biển Trường Sa!
Đến đảo An Bang, cánh nhà báo chúng tôi mới thực sự hiểu và thông cảm với quy định của “Bộ Tham mưu” chuyến công tác. Đảo rất hẹp, nhất là địa hình, địa mạo và hoạt động thủy văn khu vực này rất phức tạp. Tàu lớn không vào được gần đảo, phải dùng xuồng “tăng bo” đưa người và mọi thứ vào, ra đảo. Ngồi xuồng vào đảo, nhiều lúc, nhiều người phải thót tim, vì sóng dữ, sóng lớn, lúc đẩy con xuồng lên cao như bay khỏi mặt biển, rồi đột ngột tụt xuống như chạm đáy đại dương. Cũng bởi vậy, mà đảo luôn có tổ đặc nhiệm làm nhiệm vụ đặc biệt - điều khiển, lai dắt xuồng tăng bo!
Quả thực, nếu không được lên đảo An Bang, chúng tôi không có cơ hội được chiêm ngưỡng chiếc "đồng hồ cát" lớn nhất hành tinh! Đảo hình tròn, lại có một doi cát nhọn đâm ra biển, tựa chiếc kim đồng hồ. Kỳ thú, kỳ lạ là cái doi cát ấy không cố định ở một vị trí, theo chu kỳ thủy văn, sóng gió, mà cứ một năm thì di chuyển quanh đảo đúng một vòng. Đồng hồ “tỷ niên” này, “nhà sáng chế” thiên nhiên chỉ sản xuất đơn chiếc, duy nhất quả đất, tặng người Việt.
Tạm biệt đảo nổi An Bang, lưu lại trong lòng các thành viên đoàn công tác bao ấn tượng, bao điều đặc biệt. Tổng Tham mưu trưởng xâu chuỗi những điều "mắt thấy, tai nghe" bằng đôi lời cô đọng "Đến An Bang, chúng ta thêm yêu, thêm tin những người lính Trường Sa, biết thêm những điều kỳ thú của thiên nhiên, thêm một chuyến du lịch mạo hiểm, cảm giác mạnh”. Điều Tổng Tham mưu trưởng nói vui vui, nhưng là một gợi mở rất giá trị với ngành du lịch.
Đến đảo Trường Sa Đông, cũng vì "học lỏm" sự quan sát và đừng cho những gì nhỏ là bình thường của Tổng Tham mưu trưởng, tôi đã phát hiện ra chi tiết quý mà ở Báo Quân đội nhân dân thường ví "như nhặt được vàng".
Tranh thủ trước và sau bữa ăn trưa trên đảo, tôi “sục sạo” khắp nơi "tìm vàng". Vào một căn nhà thấp lợp tôn ở phía nam đảo Trường Sa Đông, tôi thấy 2 cây dừa nhỏ trồng ở 2 thùng gỗ được ghép lại từ những tấm mảnh gỗ phế liệu. Tôi hỏi chiến sĩ tên là Trần Công Lâm (quê Ninh Bình) về 2 cây dừa này, người trong cuộc kể rành mạch.
Vào một buổi tối cuối năm 1997, sau khi sinh hoạt xong, 6 chiến sĩ (trong đó có Trần Công Lâm) ra ngồi hóng gió biển trên một doi cát. Lúc trở về phòng ngủ, Hạ sĩ Nguyễn Văn Minh (cũng quê Ninh Bình) cứ thấy lòng bồn chồn, như bỏ quên cái gì ở doi cát. Minh quay lại và thấy những vật tròn nhỏ dập dềnh theo sóng, đang tiến vào bờ. Minh nhảy ào xuống bãi biển và phấn khích reo lên:
- Dừa, anh em ơi dừa!
Mọi người theo Minh xuống bãi biển và vớt được 8 quả dừa đã khá già. Ai cũng hào hứng, bàn tính về 8 quả dừa này. Ý kiến đầu tiên là đập dừa uống nước và ăn cùi. "Miếng chín” này thật quý với lính đảo. Nhưng ý kiến phản biện ngay là "Dừa đã khá già, để lại ươm trồng trên đảo!".
Luồng ý kiến thứ hai là phán đoán 8 quả dừa đó từ đâu trôi dạt đến đảo, thì thật vô tư và sôi nổi. Người nói dừa ở nước này, người cho rằng ở nước kia, nhưng đây là cảm tính. Riêng phán đoán của Trung sĩ Trần Công Lâm, thì có lý tính. Theo suy luận của Trung sĩ Lâm, cuối năm 1997, siêu bão Linda (bão số 5) đổ bộ vào các tỉnh ven biển Nam Bộ, làm thiệt hại vô cùng lớn về người và của. 8 quả dừa ấy là ở những cây dừa ven biển bị bão quật rụng xuống biển và trôi dạt ra đây. Phán đoán này thuyết phục hơn cả.
Một cốc nước dừa thơm mát, một miếng cùi dừa bùi ngậy ở nơi biển đảo xa xôi lúc này thật tuyệt vời! Ai mà chẳng có những thèm khát rất đời thường ấy. Vậy nhưng, một quyết định thống nhất thật ý nghĩa của cả 6 người lính đảo Trường Sa Đông là dù 8 quả dừa ở đâu “tìm đến” đảo cũng đem tất cả ươm trồng, chăm sóc, cho đảo thêm bóng cây xanh.
Vậy là những người lính đảo hào hứng dùng nước ngọt "tắm rửa" cho 8 quả dừa, rồi chọn nơi thoáng mát, an toàn đặt dừa. Sau hơn 4 tháng nâng niu, chăm sóc và hồi hộp chờ đợi, dừa không phụ lòng người lính đảo, có 2 quả dừa cựa mình nhú lên 2 cái mầm thật đẹp, thật khỏe. Cả đảo mừng vui khôn xiết, tìm gỗ đóng 2 chiếc thùng, rồi kiếm đất, rác mục cho vào ươm 2 mầm dừa. Hôm tôi ra đảo, hai cây dừa đã đâm được 7 tàu lá. Anh em bảo rằng, dừa đã cứng cáp, đầu Xuân 2000 sẽ đem dừa trồng nơi đẹp và an toàn nhất.
Tôi thật xúc động trước quyết định và việc làm thân thương của người lính đảo Trường Sa Đông, đồng thời quan tâm đến việc phán đoán của họ về nguồn gốc những quả dừa xuất xứ từ đâu?
Trở lại tàu Ti Tan, tôi lên ngay cabin gặp Thuyền phó, Thượng úy Dương Quốc Chiến, kể chuyện này, những mong từ kinh nghiệm của anh, và những tài liệu phục vụ đi biển của con tàu hiện đại, sẽ xác định được gốc tích của 8 quả dừa! Thượng úy sẵn lòng, từ phán đoán của Trung sĩ Trần Công Lâm (tôi kể lại với Thượng úy Chiến), anh đem ra luôn 2 tài liệu, là “Một số yếu tố khí tượng hải dương, vùng biển Việt Nam và lân cận” và “Tập hải đồ đánh dấu đường đi của vật trôi dạt trên biển”. Thuyền phó Chiến mở ngay các trang thể hiện yếu tố liên quan trong tháng 11-12 và tháng 1 hằng năm. Thật mừng, là ở các tháng này, trên hải đồ thể hiện rõ một dòng chảy ven biển nước ta theo hướng từ Bắc xuống Nam, đến khu vực biển Cà Mau thì vòng ra phía Đông, tới vùng biển Trường Sa. Còn ở tài liệu đánh dấu đường đi của vật trôi dạt trên biển khu vực này vào thời gian đó cũng có đường hướng trùng khớp như vậy với hải đồ.
Thượng úy Dương Quốc Chiến cũng thật mừng, thật vui, khẳng định với tôi “Qua các tài liệu và tính toán thời gian, em khẳng định 99% là 8 quả dừa đó là do bão số 5 quật rụng xuống biển và trôi ra đảo Trường Sa Đông. Linh cảm và dự đoán của anh em Trường Sa Đông thật tuyệt vời! Chuyến công tác sau, nhất định em sẽ trực tiếp thông báo về sự linh cảm và phán đoán của họ trùng khớp với phương pháp khoa học theo tài liệu của tàu Ti Tan!”.
Trở lại tàu Ti Tan, thấy Tổng Tham mưu trưởng vẫn đứng trên boong tàu, lưu luyến nhìn lại đảo Trường Sa Đông, tôi liền đến bên Thủ trưởng kể vắn tắt về chuyện 2 cây dừa. Tổng Tham mưu trưởng rất vui và bắt tay chúc mừng tôi, tôi đáp lễ: "Em phát hiện ra 2 cây dừa ấy, chính là học Thủ trưởng ở chuyện về những thanh thép ở khu vực cầu cảng Trường Sa Lớn và những người chiến sĩ Trường Sa, đó ạ!".
Tổng Tham mưu trưởng vui hơn, nhưng vẫn trách tôi: "Cậu là nhà báo, mà chia sẻ thông tin này với “đồng nghiệp” quá chậm. Nếu cậu nói sớm, tớ nhất định đến thăm và chụp ảnh với 2 “đồng hương” đất Chín Rồng!".
Hành trình cuối của "chuyên cơ" Ti Tan đưa Tổng Tham mưu trưởng và Đoàn công tác về các nhà giàn DK1, ở thềm lục địa phía Nam. Các nhà giàn gần đất liền hơn nhiều so với các đảo, đá Trường Sa, nhưng lên các nhà giàn thật khó khăn, nguy hiểm. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho Thủ trưởng, “Bộ Tham mưu” đoàn công tác đề nghị Tổng Tham mưu trưởng ở lại tàu! Tuy nhiên, việc đó không thể diễn ra, Tổng Tham mưu trưởng cười tự tin: "Các ông cứ yên tâm, các ông lên được, tôi cũng lên được!". Vậy là Tổng Tham mưu trưởng cẩn thận xuống xuồng và lên nhà giàn DK1/4, mọi động tác đều chuẩn mực, chắc chắn.
Nhà giàn hẹp, ông quan sát rất nhanh, rồi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ: "... Nhà giàn không chỉ có 5 anh em, nhưng những gì tôi thấy và cảm nhận thì các đồng chí chẳng khác gì tinh thần của 5 chiến sĩ xe tăng trong bài hát '5 anh em trên một chiếc xe tăng' của anh Doãn Nho. Điều ấy quý lắm, nó còn mạnh hơn súng pháo, sắt thép...".
Thêm một lần nữa chúng tôi lắng lòng ở thềm lục địa! Thêm một điều thú vị nữa trong chuyến đi. Dưới chân nhà giàn là "bể cá cảnh” tự nhiên khổng lồ, với hàng trăm loài cá to nhỏ, màu sắc khác nhau. Chắc chắn là "bể cá cảnh" này to và đẹp nhất quốc gia. Cán bộ DK1, thấy ai cũng xuýt xoa về bể cá tự nhiên, liền khoe: "Nhà giàn nào của DK1 cũng có những bể cá cảnh tự nhiên như thế!". Một kỷ lục mới thấy với những người lần đầu tiên được lên nhà giàn là cây và lá mồng tơi thật “khủng”. Người nhà giàn khoe "Có bữa chỉ 5 lá mồng tơi là nấu được một nồi canh, cả nhà giàn ăn đủ...".
Trước khi trở lại đất liền, Đoàn công tác thả hoa tưởng niệm cán bộ, chiến sĩ nhà giàn DK1/6 vừa hy sinh ngày 13-12-1998, do lốc xoáy cực đoan, bất thường, làm đổ nhà giàn. Tổng Tham mưu trưởng và mọi thành viên Đoàn công tác không ai cầm được nước mắt. Trong khói hương và nước mắt nhạt nhòa, tôi liên tưởng các nhà giàn chính là những đóa sen tuyệt đẹp vươn lên từ thềm lục địa, từ khí phách và tâm hồn chiến sĩ hải quân!
Từ "học lỏm" đến "học công khai" về cách quan sát, phát hiện và "nâng tầm" chi tiết của Tổng Tham mưu trưởng, chuyến tác nghiệp đầu tiên của tôi ngoài Trường Sa và thềm lục địa phía Nam đã khá thành công. Tôi viết được nhiều bài trong chuyến đi, trong đó bài bút ký dài kỳ "Thân thương huyện đảo Trường Sa" đăng trên Báo Quân đội nhân dân, được Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) tặng giải xuất sắc nhất viết về biển đảo năm 1999.
Nghe tin đau buồn - Đại tướng Lê Văn Dũng đã vĩnh biệt chúng ta, tôi vô cùng thương tiếc. Tĩnh tâm lại, tôi như thấy chuyến tác nghiệp Trường Sa và nhà giàn DK1 ở thềm lục địa phía Nam (tháng 3-1999), như vừa khép lại hành trình. Phong cách, hình ảnh và những câu nói, khái quát lắng lòng người của ông vẫn lắng đọng trong tôi. Người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, "Ông già Nam Bộ" thật bình dị mà sâu sắc trong nhìn nhận, từ những điều nho nhỏ đến những vấn đề chiến lược của Quân đội, đất nước.
Trong nhớ thương, xúc động, tôi viết bài này, dâng nén tâm nhang vĩnh biệt ông về với thế giới người hiền; gặp lại những đồng đội đã ngã xuống ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam, vì chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.