Đổi mới tư duy phát triển và kiến tạo hệ giá trị cốt lõi
Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa kỷ nguyên phát triển mới. Song, nguy cơ song hành, chồng lấn và đan xen với thời cơ. Trong phát triển, thường trực hai nguy cơ nguy hiểm nhất đe dọa: Nguy cơ tụt hậu về thể chế, đạo đức công vụ, văn hóa-xã hội và nguy cơ có thể giàu lên nhưng không thể lớn lên.
Việt Nam phải trở thành quốc gia phát triển, có bản sắc, có vị thế, có sức hấp dẫn mềm vào giữa thế kỷ 21, trong tư cách và phẩm giá một quốc gia thịnh vượng từ nội lực, từ gốc rễ một cách bền vững và nhân văn:
1. Tư duy lịch sử-kỷ nguyên: Việt Nam được nhìn như một chủ thể lịch sử đang chuyển dịch từ đấu tranh-bảo vệ-hội nhập sang kiến tạo-phát triển-khẳng định vị thế. Do đó, hùng cường, thịnh vượng không chỉ là mục tiêu kinh tế mà là trạng thái và tâm thế phát triển toàn diện, tổng hợp của một quốc gia trưởng thành và hùng mạnh.
2. Tư duy hệ thống-tổng thể: Phát triển quốc gia là một chỉnh thể hữu cơ từ kinh tế-chính trị-văn hóa-con người-đạo đức tới quốc phòng, an ninh-đối ngoại. Mọi cải cách đơn tuyến (chỉ kinh tế, chỉ công nghệ, chỉ thể chế) đều không đủ để đất nước phát triển.
3. Tư duy tự chủ chiến lược-tự lực, tự cường gắn với chủ động cùng thời đại: Nội lực quốc gia là nền tảng quyết định. Sức mạnh ngoại lực chỉ phát huy khi nội lực đủ mạnh và có bản lĩnh định hướng. Tư duy kiến tạo kỷ nguyên, vượt qua và đoạn tuyệt với mọi thứ tư duy nhiệm kỳ, tăng trưởng ngắn hạn hay phát triển cục bộ, bản vị.
 |
Các chuyên gia dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2026. Ảnh: tuoitre.vn
|
Vì thế, tầm nhìn chiến lược về phát triển Việt Nam tự nó hàm chứa:
Một là, giàu có về vật chất: Nền kinh tế hiện đại, tự chủ, có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Phát triển bền vững, không đánh đổi môi trường, văn hóa, an sinh xã hội. Kết quả phát triển quan trọng nhưng phương thức đạt được kết quả mới thật sự quan trọng hơn. Cảnh tỉnh về giới hạn của sự phát triển đơn thuần kinh tế vị kinh tế.
Hai là, giàu có về tinh thần và văn hóa: Xây dựng hệ giá trị Việt Nam thời đại mới: Yêu nước-nhân ái-trung thực-trách nhiệm-sáng tạo-khát vọng vươn lên. Văn hóa giữ vai trò “hồn cốt”, không bị hòa tan trong toàn cầu hóa.
Ba là, có vị thế và ảnh hưởng thế giới. Việt Nam là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm, có tiếng nói trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Không chỉ tham gia mà đóng góp giá trị và giải pháp phát triển mang tầm vóc toàn cầu.
Tất cả kết tinh thành hệ giá trị Việt Nam, với 5 nhân tố xuyên suốt: 1. Độc lập-tự chủ-tự cường; 2. Con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu; 3. Kết hợp hài hòa truyền thống và hiện đại; 4. Phát triển gắn với công bằng, tiến bộ xã hội; 5. Đạo đức quyền lực và văn hóa lãnh đạo, quản trị quốc gia. Nếu quyền lực không được soi chiếu bằng đạo đức và văn hóa thì phát triển sẽ mất phương hướng.
Từ đó tạo nên và phát triển phẩm giá Việt Nam: Dân tộc hùng mạnh-quốc gia giàu có-xã hội văn minh-con người tự chủ-tương lai tỏa sáng.
Triết lý phát triển, hệ động lực và hệ điều kiện phát triển
Từ những bài học của lịch sử, nhất là sau gần 40 năm đổi mới càng xác tín, sự kết tinh tầm nhìn, tư duy và thực tiễn là kiến tạo triết lý phát triển Việt Nam thời đại mới vượt khỏi nhiệm kỳ, với hệ tư duy siêu cấu trúc và một định hướng tương lai học.
Trước hết, dân tộc không phải một “đối tượng quản lý” đơn thuần mà là chủ thể mang năng lực tự đổi mới, tự bứt phá, sáng tạo lịch sử và thời đại; đồng thời là nguồn lực chiến lược căn bản phát triển đất nước. Nhân tố con người là trụ cột của phát triển, giữ vị trí tối thượng. Văn hóa Việt Nam là hệ gene tinh thần để bước vào tương lai.
Thứ hai, hiện đại hóa đất nước là một cuộc cách mạng mang tính nhân bản. Hiện đại hóa không chỉ là máy móc-công nghệ về kinh tế mà là hiện đại hóa tư duy và hiện đại hóa văn hóa dân tộc: 1. Hiện đại phải bám rễ truyền thống-không đánh mất bản sắc Việt; 2. Phát triển phải thấm đẫm nhân văn-lấy phẩm giá con người làm chuẩn mực và mục tiêu phát triển cao nhất; 3. Tiến bộ xã hội phải đặt trên nền độc lập quốc gia, tự chủ chiến lược, không bị chi phối bởi mô hình ảo tưởng hoặc lệ thuộc mô hình phát triển ngoại nhập.
Thứ ba, quyền lực nhà nước hiện đại: Liêm chính-phục vụ-kiến tạo. Đó phải là quyền lực mang tinh thần thượng tôn pháp luật và đạo đức công vụ. Quyền lực phải trong sạch, minh bạch, vì dân. Nhà nước phải là biểu tượng và sức mạnh pháp quyền, đạo lý và việc vận hành quyền lực phải thấm đẫm văn hóa và đạo đức, quyết không chỉ đơn thuần quản trị hành chính. Hệ thống thể chế phải gắn với sự chuẩn hóa văn minh chính trị thúc đẩy Việt Nam tự chủ chiến lược-kiến tạo tổng thể-phát triển toàn diện-hội nhập chủ động.
Thứ tư, về tương lai, sự phát triển của Việt Nam không chỉ là đích đến mà là một sứ mệnh lịch sử, thuộc về thế hệ hôm nay đối với tương lai 2050-2100.
Trong rất nhiều trọng sự, vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách thể chế và tái cấu trúc hệ thống chính trị-xã hội đặt ra nóng bỏng. Để hiện thực hóa triết lý phát triển ấy, cần khám phá và phát triển hệ động lực phát triển Việt Nam:
Nắm lấy động lực tinh thần-khát vọng dân tộc: Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là nguồn năng lượng xã hội to lớn nhất và chuyển khát vọng thành ý chí quốc gia và hành động thống nhất trong cụ thể.
Phát triển động lực con người: Kỷ nguyên phát triển toàn diện, trong đó con người, văn hóa và đạo đức giữ vai trò trung tâm. Con người Việt Nam mới: Có tri thức, bản lĩnh, đạo đức, tinh thần phụng sự. Cán bộ là “then chốt của then chốt”.
Nhân lên sức mạnh động lực thể chế và quản trị quốc gia: Thể chế hiện đại, minh bạch, hiệu quả. Nhà nước kiến tạo phát triển, không bao biện, không đứng ngoài.
Thúc đẩy động lực khoa học-công nghệ-chuyển đổi số: Không chỉ ứng dụng, mà làm chủ công nghệ, sáng tạo tri thức mới; chuyển đổi số gắn với chuyển đổi tư duy phát triển và quản trị quốc gia, trước hết về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhân bản với kinh tế nhà nước dẫn dắt, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.
Để chuẩn bị đi xa, mạnh mẽ và bền vững, cần chuẩn bị hệ điều kiện để Việt Nam phát triển:
Về điều kiện cần: Sự lãnh đạo đúng đắn, trong sạch, vững vàng mang tầm văn hóa của Đảng; phát triển đồng thuận xã hội cao; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; xây dựng và phát triển nội lực kinh tế mạnh mẽ. Về điều kiện đủ: Nắm lấy và thực thi tối thiểu 4 đột phá: Đột phá về tư duy phát triển; đột phá về văn hóa chính trị; đột phá về chất lượng đội ngũ cán bộ và đột phá về niềm tin xã hội, mất niềm tin là mất cơ hội phát triển, vô hình đánh mất sức mạnh mềm quốc gia từ căn bản.
Không ảo tưởng, xa vời.
Đổi mới lý luận và tổ chức thực tiễn Đảng lãnh đạo, cầm quyền.
Trong tính chỉnh thể lý luận-thực tiễn, nổi bật 5 phương diện quan trọng:
Một là: Đổi mới tư duy lãnh đạo, cầm quyền: Mở tầm viễn kiến, giữ vững bản lĩnh chính trị, trau dồi trí tuệ và mài sắc năng lực hành động không sợ hãi, không yếm thế. Khai mở, cổ vũ trí tuệ tập thể, cổ vũ văn hóa chính trị, trọng thị tâm lý quốc dân tiến bộ-đó phải là sinh khí của Đảng, là sinh lực mềm của dân tộc-hình thành và phát triển nội lực của quốc gia. Khuyến khích và bảo vệ phản biện nội bộ, xây dựng văn hóa chính trị dân chủ trong Đảng và hệ thống chính trị trước hết.
Hai là: Thể chế hóa phương thức lãnh đạo, cầm quyền hiện đại: Minh định vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng với vai trò quản trị của Nhà nước. Mọi quyết sách về chính trị hay kinh tế, trước hết và sau cùng phải là quyết sách văn hóa, trên nền tảng đạo lý và pháp lý. Đường lối chính trị thống nhất và dẫn dắt quốc gia; phát triển chính trị xã hội chủ nghĩa với xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền; dẫn dắt bằng hệ thống thể chế quản trị nhà nước phù hợp và chế ước mọi biên độ vận động đa chiều và phức hợp; chế ước những biến thể mới của đời sống chính trị, quy luật kinh tế...
Ba là: Phát triển cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ chặt chẽ và minh bạch: Ở đâu và khi nào kiểm soát được sự thật ở đó và lúc đó chỉnh đốn thành công và tránh được thất bại chiến lược. Do đó, kiểm soát công việc, kiểm soát rủi ro và kiểm soát thất bại là 3 phương diện quan trọng của kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị. Kiểm tra, giám sát toàn bộ hệ thống chính trị theo Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Tập trung đột phá, chấn chỉnh công tác cán bộ, đặc biệt là phòng, chống suy thoái tư tưởng, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, tham nhũng dưới đủ hình thái (nguy hiểm nhất là tham nhũng quyền lực, tham nhũng lòng tin...), tiêu cực, lãng phí, xử lý sai phạm đảng viên, cán bộ đúng kỷ luật của Đảng và pháp luật. Dưới cây lớn, cỏ dại không thể mọc! Trong sự giám sát của nhân dân, đảng viên hủ bại không thể thoát. Không chủ động phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực một cách hiệu quả, nhất định không có bất cứ sự ổn định chính trị, sự phát triển nào như mong muốn, nếu không nói có nguy cơ sụp đổ tất cả.
Bốn là: Phát triển đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng dân chủ, thống nhất, công bằng và minh bạch: Vun đắp dân là gốc, tôn vinh dân là chủ thể của đổi mới sáng tạo. Lãnh đạo xây dựng các thiết chế dân chủ thực chất bằng pháp luật (bầu cử, đối thoại, trưng cầu dân ý, phản biện xã hội). Dân chủ nhưng không dân tuý, không a dua, “theo đuôi”; tập trung nhưng không khuôn cứng, mệnh lệnh... Tôn tài đại thịnh! Tụ hội và trọng dụng nhân tài và tôn vinh tất cả đồng bào vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cổ vũ và bảo vệ đồng bào, dù trong nước hay ở nước ngoài, vượt qua mọi khác biệt, tất cả vì sức mạnh của đất nước, uy tín và danh dự Việt Nam.
Năm là: Khơi dậy khát vọng phát triển và tinh thần tự lập, tự cường, tự tôn và đoàn kết toàn dân tộc: Bồi đắp và phát triển từ mỗi người dân, mỗi tổ chức xã hội nguồn năng lượng sáng tạo tiềm ẩn và hiện hữu để phát triển đất nước; gìn giữ và cổ vũ đạo đức văn minh, tiến bộ và phát triển tâm lý quốc dân không chịu thúc thủ, nghèo hèn và thua kém các quốc gia, dân tộc khác. Đó là tư chất quốc gia, là danh dự người Việt Nam.
Một Việt Nam phát triển thịnh vượng vào giữa thế kỷ 21-một quốc gia phát triển, văn minh, độc lập, bản lĩnh-một dân tộc đứng trong hàng đầu châu Á và tiến bước cùng nhân loại, dưới ngọn cờ của Đảng.
Trước thềm năm Bính Ngọ 2026, trong tầm nhìn tới năm Canh Ngọ 2050, hơn lúc nào hết, công cuộc kiến tạo và phát triển, đòi hỏi dân tộc hành động như một cuộc trường chinh vĩ đại, vừa vượt qua chính mình vừa tái tạo lịch sử, vừa tự chủ chiến lược hóa giải mọi thách thức toàn cầu, không ngừng định vị chiến lược quốc gia, kiến tạo lịch sử phát triển mới và tỏa sáng quốc thể Việt Nam.