5 năm đứng chân trên địa bàn Bắc Quảng Trị đầy gian khổ, ác liệt, các thầy thuốc Bệnh viện 112 (Cục Quân y) đã cứu chữa cho hàng trăm ngàn lượt TBBB và nhân dân. Có thời điểm TBBB nhập viện trung bình lên tới 2.700 người /ngày, có ngày lên tới 4.300 người, có những bác sỹ mổ trên 500 ca /năm an toàn. Nhiều cán bộ, chiến sỹ của Viện trong khi làm nhiệm vụ đã hy sinh thân mình để bảo đảm an toàn cho TBBB. Với những thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Viện Quân y 112 đã vinh dự được Đảng, Nhà nước và Quân đội tặng thưởng: Huân chương Chiến công hạng Nhất (1972); Huân chương Chiến công hạng Nhì (1973); các khoa, ban đều được tặng thưởng huân chương chiến công; hàng chục khoa, ban được tặng danh hiệu Đơn vị Quyết thắng và bằng khen các loại. Mới đây, Bệnh viện đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”.
Ngày 1-5-1970, tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Viện Quân y 112 (Cục Quân y) được thành lập (trên cơ sở sáp nhập Đội Điều trị 83 Tây Trị Thiên; Đội Điều trị 51 ở B5 -T8 khu vực Khe Sanh và một số cán bộ của Đội Điều trị 20, Đoàn 503), có chức năng, nhiệm vụ thu dung điều trị cho TBBB ở mặt trận B4, B5 và Đoàn 559; các đơn vị chủ lực của Bộ chiến đấu ở Quảng Trị, Đường 9 - Nam Lào, Vĩnh Linh; lực lượng chiến đấu tại chỗ từ phía nam Long Đại trở vào; đón nhận TBBB ở Mặt trận B1, B2, B3 chuyển ra (theo đường bộ); vận chuyển những TBBB nặng vượt tuyến về các bệnh viện tuyến sau; cấp cứu, điều trị nhân dân khu vực đóng quân và các khu vực lân cận.
Khi mới thành lập, tổ chức của Viện gồm Ban Hành chính, Ban Chính trị, Ban Y vụ, Ban Hậu cần, Ban Tài vụ, 3 khoa Ngoại, 3 khoa Nội, Phòng Khám bệnh, Khoa X - quang, Khoa Xét nghiệm và Khoa Dược. Viện đóng quân trên địa bàn huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, có hệ thống giao thông hào dày đặc và hàng trăm hầm kèo với diện tích trên 500m2, nằm sâu dưới lòng đất từ 2-4m có thể làm nhà mổ, khu hồi sức cấp cứu, hậu phẫu và phòng kỹ thuật. Ban đầu, Viện được biên chế 300 giường bệnh, với 300 cán bộ, chiến sỹ; khi cần thiết có thể mở rộng lên thành 500-600 giường bệnh. Sau này, theo yêu cầu, nhiệm vụ, quân số của Viện tăng dần lên đến 500 cán bộ, chiến sỹ (do Cục Quân y điều động bổ sung, lấy sinh viên từ các trường đại học y - dược và đào tạo tại chỗ). Toàn Viện được tổ chức thành một đảng bộ với nhiều chi bộ cơ sở (mỗi khoa, ban là một chi bộ).
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Bình là tuyến đầu của hậu phương lớn miền Bắc, là chảo lửa, túi mưa của thiên nhiên và cũng là nơi hứng chịu mưa bom, bão đạn của quân thù. Đứng chân trên địa bàn ác liệt này, Viện Quân y 112 vừa làm nhiệm vụ của bệnh viện khu vực, đồng thời là bệnh viện tuyến đầu của hậu phương lớn, làm nhiệm vụ tuyến sau trực tiếp, đón nhận TBBB từ chiến trường miền Nam chuyển ra. Tại tuyến lửa Quảng Bình và các chiến trường miền Nam lúc đó, số lượng TBBB từ chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, B4 (Trị Thiên), B5 (Bắc Quảng Trị) chuyển về Viện Quân y 112 ngày càng tăng, trung bình mỗi ngày, Viện thu dung 1.500 TBBB. Chỉ tính riêng năm 1972, số TBBB nhập viện trung bình lên tới 2.700 người /ngày, có ngày lên tới 4.300 người. Cao điểm tháng 7, tháng 8 năm 1972, có ngày tới 400 ca TBBB nặng nằm bất động tại giường. Ngoài số TBBB, Viện còn tham gia điều trị, cứu chữa cho hàng ngàn nhân dân địa phương. Với tinh thần tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì TBBB thân yêu, cán bộ, thầy thuốc Viện Quân y 112 đã cứu chữa, chăm sóc và trả về vị trí chiến đấu, công tác cho hàng trăm ngàn lượt TBBB và nhân dân. Giữa mưa bom bão đạn, nhiều bác sỹ của Viện vẫn kiên trì đứng trong phòng mổ liên tục 12 giờ liền.
Trước khó khăn về công tác vận chuyển, thu dung TBBB, theo chỉ đạo của Cục Quân y, Viện Quân y 112 đã mở rộng phạm vi cứu chữa, thực hiện được một phần công tác cứu chữa chuyên khoa. Viện đã tổ chức các đội phẫu thuật gọn nhẹ, phục vụ những đơn vị nhỏ lẻ ở từng khu vực, từng hướng chiến trường, thực hiện chủ trương đưa kỹ thuật ra tuyến trước, cứu chữa TBBB kịp thời. Để bảo đảm an toàn cho TBBB đang điều trị và trong vận chuyển, các thầy thuốc của Viện đã phối hợp với nhân dân địa phương tổ chức đào hầm, dựng lán cho TBBB ở. Từ các đồng chí chỉ huy Viện đến bác sỹ, y tá, hộ lý đều tranh thủ xây dựng hầm hào làm nhà mổ, nhà kỹ thuật bảo đảm khi địch bắn phá vẫn an toàn cho TBBB. Mặc dù bị bom đạn địch bắn phá ác liệt, Viện vẫn tổ chức vận chuyển hàng ngàn thương bệnh binh nặng ra Bắc an toàn qua nhiều trọng điểm ác liệt bằng các phương tiện xe tải chuyển thương… Ban đầu, mỗi xe chỉ chở được 3 thương binh trên cáng, sau đó, cán bộ, thầy thuốc của Viện đã có sáng kiến đổ cát lên thùng xe, trải nilon để TBBB nằm, nhờ đó đã chở được từ 6 đến 7 TBBB /xe. Trên tuyến đường thuỷ, trong hoàn cảnh bị địch thả ngư lôi, bắn pháo sáng, kết hợp pháo từ Hạm đội 7 bắn vào, nhưng Viện vẫn bố trí được 12 thuyền, mỗi thuyền chở 6 thương binh để vận chuyển hàng ngàn TBBB cho CT4. Để bảo đảm an toàn, anh chị em phải chặt lá cây ngụy trang trên thuyền, khi máy bay rà sát thì tấp vào bờ có cỏ cây rậm rạp.
Do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, mùa mưa thì lụt lội, mùa khô hanh thì thiếu nước, phải đi lấy nước cách đơn vị 3-4 km, Viện đã có sáng kiến tổ chức lắp đặt hệ thống dẫn nước từ hồ Cẩm Ly về phục vụ cho sinh hoạt của TBBB và cán bộ, nhân viên Viện. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, Viện vẫn quyết tâm đảm bảo đủ tiêu chuẩn ăn, mặc cho TBBB và cán bộ, chiến sỹ, đảm bảo tiền lương, phụ cấp cho hơn 5.000 người, lo đủ gạo ăn cho 4.000 TBBB mỗi ngày. Số lượng TBBB tăng lên hàng ngày, dồn dập từ các chiến trường chuyển về, trung bình 1 y tá phục vụ 40 TBBB. Với tình cảm thắm thiết quân dân, các bà, các mẹ, các chị, đoàn thanh niên, hội phụ nữ địa phương cũng luân phiên đến từng giường chăm sóc TBBB. Để làm giảm nỗi đau thể xác cho TBBB, đội văn nghệ của Viện đã đem lời ca tiếng hát của mình cùng với cây đàn vượt hàng chục kilômét đường rừng, băng qua nhiều đồi dốc dưới mưa bom bão đạn để phục vụ TBBB.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới ngày càng nặng nề, phức tạp, chỉ huy Viện đã đề ra phương án vừa phục vụ vừa xây dựng; chú trọng tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ toàn diện cho cán bộ, nhân viên; tập trung phát triển kỹ thuật chuyên sâu; phấn đấu tự lực giải quyết những trường hợp vết thương, bệnh tật khó. Trong khó khăn, thiếu thốn, nhiều sáng kiến, cải tiến, đề tài khoa học đã ra đời và được áp dụng hiệu quả. Những khóa ngắn ngày học tiếng Anh, tập huấn về kỹ thuật chuyên môn thường xuyên được tổ chức, cùng với đó là các lớp đào tạo ngắn hạn đã đào tạo tại chỗ hàng trăm y tá, hộ lý và hộ lý chuyên khoa để kịp thời bổ sung nguồn nhân lực phục vụ TBBB và nhân dân.
Quá trình phục vụ mặt trận, Viện Quân y 112 đã 27 lần bị địch ném bom, đạn pháo, trong đó có 3 lần bị B52 ném bom rải thảm vào đội hình đóng quân làm 4 kho dược và 1 kho quân nhu bị cháy. Trong lúc cứu kho, bảo đảm an toàn cho TBBB, 9 cán bộ của Viện đã hy sinh anh dũng, ngoài ra còn có hàng trăm cán bộ, thầy thuốc bị thương, bị sức ép của bom mìn. Vượt lên tất cả những khó khăn, ác liệt và những mất mát, hy sinh đó, tập thể cán bộ, chiến sĩ Viện Quân y 112 vẫn không hề nao núng, hết lòng hết sức phục vụ chiến trường, phục vụ TBBB, kiên cường bám trụ đến cùng dưới mưa bom bão đạn quân thù. Viện đã phát động phong trào thi đua "bốn giỏi" (chữa bệnh giỏi, xây dựng giỏi, vận tải giỏi và văn nghệ giỏi), hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Tổng cục Hậu cần và Cục Quân y giao.
Sau chiến thắng mùa Xuân 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ của Ngành Quân y có những thay đổi để phục vụ cho công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước. Vì vậy, Viện Quân y 112 được giải thể; các cán bộ, thầy thuốc lại lên đường đến những đơn vị quân y khác nhau trên mọi miền Tổ quốc để nhận nhiệm vụ mới. Tuy nhiên, dù ở bất cứ đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì, kể cả khi trở về với đời thường, những cán bộ, chiến sĩ Viện Quân y 112 vẫn luôn nhớ về đồng đội, về một thời gian nan mà oanh liệt. Tuy chiến tranh đã đi qua 35 năm, nhưng khi nhắc về truyền thống của Viện Quân y 112, nhiều giáo sư, bác sĩ đã từng đến công tác tại Viện trong những năm tháng khói lửa đến nay vẫn không nén nổi sự xúc động, khâm phục, tự hào. Đại tá, PGS Đỗ Nghi, nguyên Cục phó Cục Quân y cho biết, trong chiến tranh chống Mỹ, ông là Trưởng phòng tổ chức kế hoạch Cục Quân y nên đã ba lần được vào làm việc tại đây. Trong ký ức của ông, Viện Quân y 112 là bệnh viện tuyến đầu của miền Bắc chịu đựng nhiều bom đạn, gian khổ nhất. Trong những điều kiện cực kỳ ác liệt và gian khổ đó, các cán bộ, chiến sĩ của Viện Quân y 112 đã gồng mình phục vụ một số lượng TBBB gấp 7-8 lần quy định và vận chuyển nhiều nghìn TBBB qua Quân khu 4 ra hậu phương an toàn. Đây có lẽ cũng là một kỷ lục của ngành quân y trong chống Mỹ. Ghi nhận những đóng góp và truyền thống vẻ vang đó, mới đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định số 163/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho Viện Quân y 112, đáp ứng lòng mong mỏi của các cán bộ, thầy thuốc Viện 112 và đông đảo TBBB, những người đã từng đến làm việc, công tác, điều trị tại Viện trong những năm tháng đầy ác liệt và oai hùng ấy.
Việt Thủy