Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để chi viện cho miền Nam, ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị quyết định thành lập Đoàn 559, có nhiệm vụ tổ chức giao thông, vận chuyển hàng quân sự, đưa đón cán bộ, bộ đội hành quân vào chiến trường dọc theo dãy Trường Sơn... Từ cuối năm 1959, cách mạng Lào chuyển sang giai đoạn kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nên nhu cầu mọi mặt ngày càng lớn. Với tinh thần “Giúp bạn là giúp mình”, Đảng, Chính phủ và nhân dân ta đã giúp Bạn tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ và các khu vực hậu cần ở Sầm Nưa, cánh đồng Chum, Khăm Muộn và khu vực đường 9 - Nam Lào.

Thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã đưa hàng ngàn cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam, xây dựng quân nguỵ Sài Gòn và tìm mọi cách ngăn chặn, cắt đứt đường Trường Sơn. Việc vận chuyển tiếp tế cho chiến trường rất khó khăn, trong khi nhu cầu của chiến trường ngày càng lớn và cấp thiết. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Đảng ta chủ trương mở rộng tuyến 559 sang phía Tây Trường Sơn và được Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhất trí. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở tuyến 559 ở Tây Trường Sơn, liên quân Việt -Lào đã mở một số đợt tác chiến giải phóng các vùng dọc biên giới hai nước; việc bảo đảm hậu cần cho các chiến dịch này do Đoàn 559 đảm nhiệm. Ta và Bạn thống nhất sử dụng một phần đất phía Tây Trường Sơn thuộc vùng giải phóng Lào để xây dựng tuyến hậu cần chiến lược chi viện cho chiến trường Nam Đông Dương, do Đoàn 559 chỉ đạo chung và phối hợp với Quân khu Trung - Hạ Lào, đảng bộ và chính quyền 7 tỉnh và 17 mường (huyện) của Lào thực hiện. Ngày 14/6/1961, đường 559 Tây Trường Sơn chính thức đi vào hoạt động. Nhờ vậy, từ năm 1961 – 1965, Việt Nam đã vận chuyển chi viện cho Lào 17.732 tấn hàng, trong đó có 10.136 tấn hàng viện trợ quân sự do hậu cần quân đội Việt Nam trực tiếp vận chuyển, góp phần xây dựng, củng cố căn cứ địa của cách mạng Lào và bảo đảm cho các chiến dịch tác chiến liên minh Việt-Lào, như: Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng (01-3/1961), Luông Lậm Thà (4-5/1962)....

Từ năm 1965 trở đi, nhu cầu của các chiến trường ngày càng lớn, đặc biệt để chuẩn bị cho Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), Quân uỷ Trung ương chỉ đạo Đoàn 559 đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống đường vận tải chiến lược phía trước nhằm chi viện lớn cho chiến trường miền Nam và Hạ Lào. Các  đường cơ giới 128, 129... được mở mới; đường 12 được nâng cấp; một số đường gùi thồ, đường sông, đường vòng tránh được củng cố và mở mới... các đường ngang nối tuyến Tây và Đông Trường Sơn như B45 ở Trị Thiên, B46 ở Quân khu 5, đường từ Tà Xẻng vào Mặt trận Tây Nguyên cũng hoàn thành... hình thành hệ thống đường vận tải chiến lược liên hoàn với 11 binh trạm. Nhờ vậy, từ năm 1965-1968, Đoàn 559 đã vận chuyển chi viện chiến trường 121.139 tấn vật chất, bảo đảm cho các lực lượng hành quân trên tuyến 15.862 tấn; bảo đảm cho 594.858 lượt người hành quân vào chiến trường, chuyển 35.421 lượt thương bệnh binh... chi viện kịp thời cho tác chiến, đặc biệt cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Việt Nam còn giúp Lào tiếp nhận quá cảnh 20.000 tấn hàng hoá/năm, vận tải quân sự vận chuyển giúp Lào 16.000 tấn/năm. Đó là cơ sở để Bạn tổ chức bảo đảm nhu cầu dân sinh, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo đảm cho các chiến dịch phòng ngự dài ngày và phối hợp tác chiến trong cuộc Tổng tiến công chiến lược của quân và dân Việt Nam trong Tết Mậu Thân.

Tháng 3/1970, Mỹ lật đổ Chính phủ Xi-ha-núc, mở rộng chiến tranh sang Campuchia, ta và Bạn đã chớp thời cơ mở các chiến dịch, giải phóng vùng Đông Bắc Campuchia. Liên quân Việt-Lào cũng phối hợp mở chiến dịch Hạ Lào giải phóng Atôpơ và Saravan, mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng Lào suốt từ Bắc Lào, Thượng Lào đến Hạ Lào. Vùng giải phóng của Lào và Campuchia nối liền với vùng giải phóng của Việt Nam (từ Trị Thiên đến Tây Nguyên) đã tạo ra vùng hậu phương quan trọng của chiến trường Nam Đông Dương tạo thuận lợi to lớn để phát triển đường Trường Sơn từ Hạ Lào qua Campuchia vào Đông Nam Bộ. Từ năm 1969 - 1972, Đoàn 559 đã vận chuyển chi viện các chiến trường miền Nam 162.710 tấn vật chất, chiến trường Lào 114.901 tấn, bảo đảm hành quân vào 692.690 người và hành quân ra 256.871 người; thời gian hành quân vào B2 rút ngắn 10-15 ngày... góp phần quyết định để các chiến trường vượt qua khó khăn sau Tết Mậu Thân và bảo đảm cho chiến dịch đường 9 - Nam Lào (1971), cuộc tiến công chiến lược 1972 trên các chiến trường miền Nam, chiến dịch phòng ngự cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng ... Thắng lợi của các chiến dịch đó cùng với chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12/1972 buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari. Đến đầu năm 1975, bộ đội Trường Sơn đã làm thêm 5.560km đường bộ, 1.311km đường ống xăng dầu tạo ra mạng giao thông hoàn chỉnh nối liền hậu phương miền Bắc tới tất cả các chiến trường. Hai năm 1974 -1975, bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển 823.146 tấn vật chất (bằng 1,6 lần 13 năm trước đó), giao cho các chiến trường 364.524 tấn. Bằng trí sáng tạo, nỗ lực phi thường, lòng quả cảm và sự hy sinh to lớn của quân và dân ta, cùng sự giúp đỡ hiệu quả của nhân dân Lào và Campuchia, đường Trường Sơn luôn được giữ vững và không ngừng phát triển. Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Trường Sơn xuyên qua 20 tỉnh (9 tỉnh của Việt Nam, 7 tỉnh của Lào, 4 tỉnh của Campuchia), diện tích trên 100.000km2, với hệ thống mạng đường giao thông vận tải liên hoàn gồm: 17.000km đường vận tải cơ giới, trên 3.000km đường giao liên và 1.399km đường ống xăng dầu. Hệ thống kho tàng chiến lược có trữ lượng hàng chục vạn tấn vật chất và các cơ sở bảo đảm kỹ thuật, bệnh viện, bệnh xá, đội điều trị, đội phẫu...Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trên tuyến đường này, ta đã cơ động thần tốc 3 quân đoàn, 5 sư đoàn và 2 trung đoàn binh chủng vào chiến dịch, phục vụ hành quân 41 vạn lượt người (cả dân sự)...

Trong suốt 16 năm (1959 – 1975), Mỹ đã không từ một âm mưu, thủ đoạn đánh phá nào nhằm huỷ diệt tuyến chi viện huyết mạch Trường Sơn. Chúng đã rải hàng triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học, khiến hàng vạn người bị thương, hy sinh và bị nhiễm chất độc hoá học, gần 14.500 ô tô bị phá hủy, hơn 90.000 tấn hàng hoá bị đánh cháy... Song quân dân ta và Bạn đã sát cánh bên nhau, chiến đấu anh dũng, tiêu diệt và bắt sống 18.470 tên địch, bắn rơi 2.455 máy bay, giải phóng 6 tỉnh Trung, Hạ Lào, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ và phát triển đường Trường Sơn ngày càng vững mạnh. Đó là biểu tượng đẹp của sự gắn bó máu thịt, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt-Lào trong kháng chiến chống Mỹ.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ngày nay, đường Trường Sơn đã phát triển thành con đường chiến lược của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, có vai trò quan trọng trong xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần ngày càng vững mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Đại tá, ThS TRẦN ĐÌNH QUANG