Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tiếp tục giảm. Ảnh theo internet

QĐND Online- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 giảm 0,19%, sau khi đã tăng chậm lại ở các tháng trước. Điều này cho thấy các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã và đang phát huy tác dụng. Câu hỏi đặt ra là liệu lạm phát đã được giải quyết triệt để hay mới chỉ được ngăn chặn? Và có sớm qúa không, khi đặt ra cảnh báo thiểu phát?

Đã qua đỉnh lạm phát?

CPI hàng tháng đã được kiềm chế theo hướng giảm dần tốc độ tăng (tháng 1: 2,38%, tháng 2: 3,56%, tháng 3: 2,99%:, tháng 4: 2,2%, tháng 5: 3,91%, tháng 6: 2,14%, tháng 7: 1,13%, tháng 8: 1,56%, tháng 9: 0,18%). Đặc biệt trong tháng 10/2008, CPI đã giảm 0,19%.

Nguyên nhân quan trọng khiến bánh xe CPI lăn chậm lại, theo nhiều chuyên gia kinh tế, do cả 2 nhân tố chủ quan và khách quan. Về chủ quan, ở trong nước, các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã phát huy tác dụng. Sau khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng, tính đến đầu tháng 10, tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng 6,54%, khả năng cả năm chỉ tăng 16 - 18%, tổng dư nợ tín dụng tăng dưới 30% - thấp xa so với tốc độ tăng của năm trước và không vượt ngưỡng do Ngân hàng Nhà nước đặt ra từ đầu năm.

Bên cạnh đó, tổng mức đầu tư và tiêu dùng đã giảm cũng góp phần làm cho CPI tăng chậm lại. Nếu năm trước tổng mức đầu tư lên tới 45,6% GDP, thì năm nay có thể không vượt qua 41%. Chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ còn tăng dưới 6% (nếu loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng bình quân so với cùng kỳ), chưa bằng một nửa tốc độ tăng của năm 2007. Nếu tính theo tháng, thì tốc độ tăng đã thấp dần, thậm chí có tháng còn bị giảm, do lạm phát cao làm hạn chế tiêu dùng.

Về khách quan, giá cả thế giới gần đây giảm mạnh, gần như ở tất cả các mặt hàng xuất, nhập khẩu chủ yếu của nước ta như xăng dầu, lương thực, sắt thép, cà phê, hạt điều, cao su, hàng điện tử...,điều đó đã tác động kéo mặt bằng giá trong nước xuống.

Theo TS. Phạm Văn Hà, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Tài chính, “Cho đến thời điểm này, với tình hình suy thoái kinh tế thế giới có thể nhận định rằng nhiều khả năng chúng ta đã qua khỏi đỉnh của lạm phát. Vào thời điểm này cần có những thay đổi nhất định trong quan điểm chính sách để củng cố xu thế này. Quan điểm thắt chặt chính sách tài chính tiền tệ vẫn là chủ đạo nhưng về mức độ thắt chặt có thể bắt đầu giảm dần, nhất là với chính sách tiền tệ vì có độ trễ”.

Hậu chống lạm phát ra sao?

Sau một thời kỳ tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu chững lại kể từ quý II/2008, sau khi Chính phủ bắt đầu thực thi quyết liệt những biện pháp thắt chặt tài chính, tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát. Quý III năm nay, GDP cả nước chỉ tăng 6.52%, mức tăng thấp nhất cho quý III trong vòng 5 năm trở lại đây. Công nghiệp và xây dựng là khu vực sụt giảm nhiều nhất, thấp hơn xấp xỉ 3% so với cùng kỳ các năm.

Trong bối cảnh kinh tế trong nước có nhiều biến động, lại cộng thêm những ảnh hưởng bất lợi từ khủng hoảng kinh tế thế giới, các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thậm chí là bên bờ vực phá sản. Ông Vũ Duy Thái, Tổng thư kí Hiệp hội Công thương Hà Nội cho rằng: “Chống lạm phát, Chính phủ phải có chính sách cân bằng giữa vĩ mô và vi mô, giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ, giữa thắt chặt tiền tệ và tăng trưởng kinh tế. Nếu cứ thắt chặt tiền tệ hạn chế sản xuất kinh doanh, sớm muộn sẽ dẫn đến cái chết của các doanh nghiệp nhỏ”.

Sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp phá sản, bao nhiêu lao động thất nghiệp, bao nhiêu người được hưởng lợi và bao nhiêu người thua thiệt với tiền gửi ngân hàng...? Đó là câu hỏi mà nhiều nhà kinh tế đang đặt ra.

TS. Bùi Tất Thắng, Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho rằng, ở góc độ thuần túy kinh tế, việc chống lạm phát về bản chất là làm giảm bớt lượng tiền trong lưu thông. Tuy nhiên, cách giảm lượng tiền trong lưu thông cần căn cứ vào điều kiện cụ thể và tùy thuộc vào mức độ nguy cấp của lạm phát và mục tiêu chính của chính sách, trên cơ sở đánh giá tác động dự kiến: được gì, giá phải trả là thế nào, toàn nền kinh tế ra sao, các nhóm lợi ích bị ảnh hưởng theo hướng nào, khả năng chịu đựng đến đâu? v.v…

Một số ý kiến cho rằng, hiện nay, các giải pháp mới chỉ kéo được lạm phát xuống, chứ chưa giải quyết được dứt điểm căn nguyên của lạm phát. Bất kể gói giải pháp nào, dù toàn diện đến đâu, nhưng nếu các nội dung kinh tế cốt lõi chưa được giải quyết thấu đáo, thì lạm phát dẫu có được kiềm chế cũng vẫn nhiều khả năng bùng phát trở lại khi có tác nhân bên ngòai.

Trong khi nỗi lo lạm phát chưa qua, nguy cơ thiểu phát cũng đang nổi lên như một vấn đề đáng quan ngại. Theo TS. Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ (DNVVN), nếu để các doanh nghiệp, nhất là các DNVVN suy sụp và phá sản hàng loạt, thì tăng trưởng sẽ giảm sút. Nền kinh tế không chỉ lâm vào thiểu phát, mà còn giảm phát. Lúc đó, lại phải kích cầu, bơm vốn để cứu nền kinh tế và công việc này còn khó hơn nhiều so với chống lạm phát.

Phân tích tác dụng phụ của chính sách thắt chặt tiền tệ, PGS.TS. Ngô Trí Long, Viện NCKH Thị trường Giá cả, cho rằng, gánh nặng chống lạm phát đang đè lên vai doanh nghiệp, bởi lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng hiện còn ở mức quá cao. Nếu tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ kéo dài sẽ ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế và dẫn tới hiện tượng thiểu phát, sau đó là giảm phát.

Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, khi cấu trúc nền kinh tế yếu thì khả năng chuyển từ lạm phát sang thiểu phát sẽ rất nhanh. Bởi vậy, cần phải có sự cảnh báo mạnh mẽ đề phòng và ứng phó với những khả năng xấu nhất có thể xảy ra. “Đắp đê chống lụt ngay trong lúc hạn” không phải là việc thừa.

Mai Anh