QĐND - Nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã giải thể, dừng hoạt động, thế nhưng, chỉ một số ít doanh nghiệp sử dụng biện pháp phá sản, mặc dù đây là một phương án thông dụng trong nền kinh tế thị trường khi doanh nghiệp thua lỗ. Luật Phá sản dù đã được thi hành trong 9 năm nhưng chưa thực sự trở thành công cụ hữu hiệu. Đó là ý kiến của nhiều đại biểu tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 13-9 bàn về dự án Luật Phá sản (sửa đổi).
Chưa có nhận thức đúng về việc phá sản
Theo cơ quan soạn thảo, Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15-6 -2004, sau 9 năm thi hành đã bộc lộ một số hạn chế tác động tiêu cực đến việc thúc đẩy sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (DN, HTX), có những quy định mâu thuẫn, chưa phù hợp, thiếu rõ ràng, chưa tương thích với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như DN, HTX bị yêu cầu tuyên bố phá sản; có những quy định chưa tương thích với pháp luật quốc tế... dẫn đến hiệu quả áp dụng quy định Luật Phá sản vào thực tiễn không cao.
Thực tế cho thấy, hiện nay mặc dù số lượng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nhiều, nhiều doanh nghiệp đã dừng hoạt động, đã "chết", thế nhưng rất ít doanh nghiệp sử dụng hình thức "phá sản". Theo trang thông tin hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp thì năm 2012 đăng ký 69.874 doanh nghiệp, trong đó dừng hoạt động và giải thể là 54.261 (có 44.906 doanh nghiệp dừng và 9.355 doanh nghiệp giải thể). Trong khi đó, qua tổng kết thi hành Luật Phá sản của 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì có 49 Tòa án có nhận đơn và mới giải quyết tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (trong đó có 31 hợp tác xã và 305 doanh nghiệp) và 14 Tòa án không nhận đơn và giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, Tòa án cũng mới chỉ ra được 236 quyết định mở thủ tục phá sản và trong đó ra 83 quyết định tuyên bố phá sản. Nhiều vụ việc chưa ra quyết định tuyên bố phá sản được với lý do chưa thu hồi được các khoản nợ của DN, HTX, chưa bán được các tài sản của DN, HTX.
Các ý kiến phát biểu tại buổi thảo luận đều cho rằng, cùng với việc có những quy định hợp lý hơn của luật thì cũng cần phải có một nhận thức đúng hơn về việc phá sản. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông nhận xét, hiện còn có cách nghĩ khá nặng nề về "phá sản", trong khi đây là việc làm bình thường đối với nền kinh tế thị trường, là nhu cầu cho cả doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và chủ nợ. Doanh nghiệp thì cần được phá sản để tái cơ cấu, lập doanh nghiệp mới. Chủ nợ thì mong vãn hồi được chút vốn. Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, dự thảo luật cần phải khắc phục được các nhược điểm hiện nay của Luật Phá sản, để luật thực sự đi vào đời sống, phục vụ cho việc tái cơ cấu nền kinh tế đang diễn ra.
Thế nào là một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?
Các ý kiến phát biểu tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội đều tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Phá sản. Tuy nhiên, về đối tượng áp dụng, dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) chỉ quy định đối tượng là "doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật". Một số ý kiến đề nghị cần phải mở rộng đối tượng áp dụng. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Văn Hiện cho rằng theo thông lệ quốc tế, đã có hoạt động kinh doanh, sử dụng vốn thì phải có hoạt động phá sản. Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển đồng tình với ý kiến này và cho rằng, ngay cả các trường đại học cũng phải cho phá sản nếu không trả được nợ. Trong báo cáo thẩm tra dự án Luật, về vấn đề này, Thường trực Ủy ban Kinh tế nhìn nhận, nếu mở rộng các đối tượng thuộc phạm vi áp dụng của Luật này thì sẽ khó khả thi do hiện nay lực lượng cán bộ thuộc lĩnh vực này còn mỏng, dẫn đến việc quá tải cho ngành Tòa án. Do vậy, Thường trực Ủy ban Kinh tế nhất trí với dự thảo Luật quy định về đối tượng áp dụng chỉ là các doanh nghiệp, hợp tác xã. Đối với cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh nếu mất khả năng thanh toán thì áp dụng thủ tục giải quyết các tranh chấp về dân sự, kinh tế đã được quy định tại pháp luật về dân sự, kinh tế và các quy định pháp luật khác.
Dự thảo luật cũng đưa ra tiêu chí khá cụ thể các doanh nghiệp, hợp tác xã được coi là "lâm vào tình trạng phá sản" khi "không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn từ 200 triệu đồng trở lên trong thời gian ba tháng, kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu". Đây là quy định mới, bởi trong Luật Phá sản năm 2004 không định lượng cụ thể mà chỉ quy định chung là "doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản". Tuy nhiên, đây lại là điều gây ra những tranh luận. Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai đề nghị ban soạn thảo giải thích rõ căn cứ để đưa ra mức 200 triệu đồng và thời gian 3 tháng nói trên.
Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Văn Hiện cho rằng, với đặc điểm các doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô vốn rất khác nhau, có thể chỉ vài chục triệu đồng hoặc có thể lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng thì nếu chỉ đưa ra một mức nợ chung 200 triệu đồng và thời gian là 3 tháng để từ đó đánh giá tình trạng phá sản là chưa hợp lý. Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, nếu quy định như vậy thì có thể có tới hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam sẽ lâm vào tình trạng phá sản bởi vốn chủ sở hữu của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 15% trong tổng vốn, còn lại là các khoản vay. Vì thế, thời gian qua, có doanh nghiệp nợ gấp 10 lần vốn chủ sở hữu vẫn chưa phá sản vì vẫn còn có khả năng vay, vẫn còn những nguồn tiền "bơm" vào. Từ đó, các đại biểu cho rằng, có thể quy định tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu để quyết định tình trạng phá sản của doanh nghiệp.
Về thứ tự phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản, phần lớn các ý kiến đều nhất trí rằng, các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc cho người lao động, bảo hiểm xã hội phải được bảo đảm trước, sau đó mới đến trả nợ người cho vay, ngân hàng, còn lại bao nhiêu mới tính tới chủ doanh nghiệp, các cổ đông.
Về thẩm quyền của tòa án, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải quy định theo hướng phân quyền nhiều hơn nữa cho các cấp địa phương (như tòa án huyện) trong việc thụ lý các vụ phá sản. Bộ phận quản lý tài sản của doanh nghiệp phá sản (trong dự thảo luật gọi là quản tài viên) có thể sẽ được "xã hội hóa", thuê từ đội ngũ luật sư, không cần phải tăng biên chế cán bộ nhà nước.
Kết luận buổi thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị ban soạn thảo tiếp thu các ý kiến, chỉnh sửa để có thể trình dự án Luật Phá sản (sửa đổi) ra Quốc hội trong thời gian tới đây.
| Tiếp tục phiên họp thứ 21, chiều 13-9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về những vấn đề quan trọng còn có ý kiến khác nhau trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 như: Quy định về các thành phần kinh tế, sở hữu đất đai, thu hồi đất, mô hình tổ chức chính quyền địa phương, Hội đồng Hiến pháp...
Đa số các ý kiến trong Thường vụ Quốc hội tán thành phương án quy định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Riêng vấn đề mô hình tổ chức chính quyền địa phương thì còn những ý kiến khác nhau. Các ý kiến đồng tình với việc kế thừa quy định Hiến pháp hiện hành về đơn vị hành chính lãnh thổ, đồng thời khẳng định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Song cũng có ý kiến băn khoăn về mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, việc không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp phường.
Các đại biểu đồng tình với việc quy định thu hồi đất vì lợi ích quốc phòng an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng và mục đích phát triển kinh tế. Trong giai đoạn nước ta đang chuyển từ một nước nông nghiệp sang công nghiệp thì phải có đất đai để phát triển công nghiệp, phát triển đô thị, nếu không quy định rõ thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội sẽ rất khó cho việc thực hiện sau này. Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung quy định việc thu hồi đất phải có bồi thường, công khai, minh bạch, công bằng theo quy định của pháp luật…
MINH THU
|
HỒ QUANG PHƯƠNG