Không ai có thể phủ nhận vai trò của các Tập đoàn kinh tế, nhất là các Tập đoàn kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam. Việc thành lập các tập đoàn kinh tế đang là xu thế phát triển, khi rất nhiều đơn xin thành lập tập đoàn trình lên các cấp quản lý. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý; sự quản lý, giám sát và tính hiệu quả của các tập đoàn kinh tế vẫn là những vấn đề gây nhiều tranh luận. 

Lỗ hổng về pháp lý

Tại hội thảo “Tập đoàn kinh tế, lý luận và thực tiễn” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và một số đơn vị phối hợp tổ chức đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của những chuyên gia kinh tế hàng đầu về vấn đề này. Hiện nay, ngoài 8 tập đoàn kinh tế nhà nước đã được thành lập thì một số tổng công ty nhà nước cũng đã và đang hoàn thiện hồ sơ để được tổ chức thành tập đoàn. Không những thế, các doanh nghiệp tư nhân cũng chẳng cần xin phép ai, vẫn tự trao cho mình cái danh “Tập đoàn”. Thế nhưng, hiện nay luật pháp liên quan đến vấn đề tập đoàn kinh tế gần như chưa có.

Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng-một dự án do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư. Ảnh: TTXVN

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương) cho biết, Luật Doanh nghiệp 2005 được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2005 quy định tại điều 149 về tập đoàn kinh tế: "Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế'", tức là Quốc hội đã không thực hiện quyền lập pháp hiến định của mình về việc quy định những quyền cơ bản của chủ sở hữu vốn nhà nước, quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước, quyền giám sát, trách nhiệm giải trình về kết quả sử dụng vốn… mà giao toàn quyền cho Chính phủ quy định. Đến ngày 12-08-2008 mới có dự thảo của Chính phủ về Nghị định quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước. Cho đến nay, Chính phủ vẫn chưa ban hành một văn bản pháp lý nào về tập đoàn kinh tế.

Từ đó, một câu hỏi được đặt ra, là trong suốt thời gian qua, hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền vốn thuộc sở hữu nhà nước được quản lý theo khung pháp lý nào, trách nhiệm cá nhân của thành viên Hội đồng quản trị quản lý vốn thuộc sở hữu nhà nước được quy định ở đâu? Tập đoàn kinh tế là ai? Công ty mẹ hay toàn thể tập đoàn?

Câu hỏi của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng là thắc mắc chung của rất nhiều nhà kinh tế khi đề cập đến vấn đề tập đoàn. Bên cạnh đó, vấn đề chủ sở hữu là Nhà nước thực hiện quyền như thế nào? Ai là đại diện chủ sở hữu cụ thể và đích thực, theo những quy định pháp luật nào, trách nhiệm cá nhân về những quyết định sử dụng vốn, trách nhiệm giải trình bồi thường thiệt hại... hiện chưa được quy định cụ thể.

Từ các chuyên gia đến lãnh đạo các tập đoàn kinh tế khi được hỏi đều mong muốn phải có một khung pháp lý rõ ràng để làm nền tảng cho hoạt động của các tập đoàn kinh tế. Trong đó, nổi cộm nhất là vấn đề tư cách pháp nhân, vì hiện nay các tập đoàn kinh tế chưa có tư cách pháp nhân nên gặp không ít trở ngại trong giao dịch thương mại.

Tổ chức, quản lý và giám sát đều có vấn đề

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh lập luận, theo kinh tế học, tài sản chỉ có thể biến thành tư bản và được sử dụng có hiệu quả khi có chủ sở hữu cụ thể, nếu không được quy định cụ thể về quyền sở hữu,  tài sản sẽ bị lợi dụng, mạnh ai nấy sài, "cha chung không ai khóc", "lắm sãi không ai đóng cửa chùa". Từng loại tài sản (đất đai, hầm mỏ, rừng biển, ngoại tệ v.v.. , tiền vốn đầu tư vào từng lĩnh vực phải đem lại lợi nhuận bao nhiêu, phải được định mức cụ thể cho từng lĩnh vực, cho từng năm, ai được chuyển nhượng, ai quyết định góp vốn vào đâu… là thuộc quyền chủ sở hữu chứ không thuộc quyền người được giao quyền sử dụng. Quyền bổ nhiệm nhân sự cũng phải được chủ sở hữu giám sát tùy theo mức góp vốn vào công ty con. Tất cả những điều này được quy định ở đâu, cơ quan nào giám sát? Trách nhiệm giải trình của tập đoàn trước chủ sở hữu vốn nhà nước là Chính phủ, cụ thể là Thủ tướng Chính phủ, người trực tiếp quản lý các tập đoàn, và Quốc hội như thế nào?

Có một thực tế được nêu ra là các tập đoàn kinh tế nhà nước trực thuộc Chính phủ, nhưng nếu xét về góc độ quản lý nhà nước thì nó phải chịu sự điều hành của các bộ. Thế nhưng, tại không ít cuộc họp, lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nói rất gay gắt, thậm chí “phê bình” cả lãnh đạo bộ. Điều này cho thấy vị trí quyền lực mạnh mẽ của các tập đoàn kinh tế nhà nước khiến ngay cả cấp bộ cũng phải “nể trọng”. Với mong muốn “nắm” chắc hơn tình hình của các tập đoàn, ngay trong hội đồng quản trị của một số tập đoàn kinh tế mạnh cũng có sự hiện diện của lãnh đạo bộ quản lý. Vì thế, lại nảy sinh ra một mâu thuẫn là lãnh đạo bộ lại nằm dưới quyền của lãnh đạo tập đoàn. Và sau khi đã có quyết định của Hội đồng quản trị với sự tham gia của lãnh đạo bộ thì tập đoàn kinh tế có còn phải báo cáo lên bộ nữa hay không?...

Các tập đoàn nắm giữ khối tài sản rất lớn của nền kinh tế quốc dân, không chỉ tiền vốn, mà còn hầm mỏ, đất đai, rừng biển… Hơn thế nữa, tập đoàn kinh tế nhà nước được trao các đặc quyền kinh doanh vô giá trên từng lĩnh vực như về viễn thông là kho tần số, tên miền, vùng trời, điện lực… đem lại những đặc quyền kinh doanh rất lớn mà không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể mơ ước được. Thế nhưng, theo thống kê, phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Quang A (Viện trưởng Viện Nghiên cứu IDS), thì hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, nộp ngân sách thực tế của các tập đoàn kinh tế nhà nước là chưa tương xứng với sự ưu ái mà họ được hưởng.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan (nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho rằng, cần phải cởi mở hơn với kinh tế tư nhân, cho họ một môi trường bình đẳng hơn (trong đó có việc hưởng các nguồn lực về vốn, tài nguyên…). Theo bà, chính việc đưa các tập đoàn kinh tế nhà nước vào một môi trường cạnh tranh bình đẳng sẽ tạo ra động lực phát triển, giải quyết các yếu kém.

QUỲNH DƯƠNG