 |
| 4324 đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam |
4324 không có tên trong các danh mục tượng đài Việt Nam. Nhưng những ai đã từng đến Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, đứng trước chiếc máy bay MIG-21 mang số hiệu 4324, mỗi bên thân có 7 ngôi sao màu đỏ tươi được đặt trên bệ cao đều cảm nhận được dáng vẻ uy nghi, hoành tráng của một tượng đài...
Cánh én bạc “Ba tư”
Lịch sử oanh liệt của 4324 được bắt đầu ngày 9-1-1967, khi được chuyển giao cho Đoàn Không quân Sao đỏ. Chiến công của chiếc “Ba tư” (theo cách gọi của những phi công Sao đỏ thời ấy): Trong gần hai năm, “Ba tư” cất cánh chiến đấu 69 lần, gặp địch 22 lần, nổ súng 16 lần, phóng 25 quả rocket, bắn rơi 14 máy bay siêu hiện đại của Mỹ… 12 phi công đã lái chiếc máy bay này, trong đó có 9 người đã bắn rơi máy bay địch, 7 người được tuyên dương anh hùng, 5 người trở thành tướng lĩnh, cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội.
Người đầu tiên trong số 9 phi công nói trên là Lê Trọng Huyên, anh đã bắn rơi chiếc máy bay F-105 của Mỹ ngày 30-4-1967, trên vùng trời Bắc Thái, đến ngày 11-5-1967, anh bắn rơi chiếc A-4 trên vùng trời Hải Dương. Tiếp đó, phi công Phạm Thanh Ngân bắn rơi hai chiếc F-105; Nguyễn Ngọc Độ bắn rơi một F-4; Nguyễn Văn Lý bắn rơi chiếc F-105; Nguyễn Hồng Nhị bắn rơi một F-105, một RF-101; Đặng Ngọc Ngự bắn rơi một F-4; Nguyễn Văn Cốc bắn rơi hai chiếc F-105; Vũ Ngọc Đỉnh chỉ trong một ngày 17-12-1967, bắn rơi hai chiếc F-105. Khép lại bảng thành tích là Nguyễn Đăng Kính bắn rơi một chiếc F-4 ngày 19-12-1967. Tuổi thọ theo quy định của loại máy bay này là 1.200 giờ, vậy mà chiếc “Ba tư” mới bay hết 2/3 thời gian cho phép (800 giờ) đã lập những thành tích xuất sắc nổi bật. Thế là nó được điều về Nhà truyền thống của Trung đoàn Sao đỏ để lưu giữ như một biểu tượng của chiến công đánh thắng giặc Mỹ để rồi sau này trở thành một “báu vật” của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Những phi công chưa biết lái... ô tô
Có một chi tiết khá thú vị là khách nước ngoài khi tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam thường hay hỏi: Tại sao chiếc máy bay này lại do nhiều phi công lái thế? Chúng tôi đem thắc mắc này hỏi chuyện Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, Trung tướng Nguyễn Văn Cốc và Đại tá Nguyễn Nhật Chiêu, những người từng lái “4324”. Ông Chiêu cười rất hiền: “Đơn giản là vì mình nghèo, của đâu mà sài sang như quân đội các nước có sẵn máy bay. Họ quy định mỗi máy bay chỉ do một phi công lái, phi công quen máy bay, khi bay sẽ an toàn hơn. Còn ở ta khi đó, các phi công trực chiến theo kíp, có lệnh là lên luôn chiếc máy bay nào đã được chuẩn bị sẵn. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra những “đôi bạn”, những kíp chiến đấu ăn ý, chỉ cần bằng tín hiệu là hiểu được ý định của nhau. Không quân ta hồi ấy có nhiều “đôi bạn” như thế nên chiến đấu rất hiệu quả”… Hóa ra là vậy, các phi công Hoa Kỳ chắc lại được một phen ngạc nhiên nữa đây. Họ thừa biết, trước khi ngồi vào buồng lái, các phi công Việt Nam chỉ là lính bộ binh. Trong cuốn sách “Alpha vào miền Bắc Việt Nam”, tác giả Jeffrey Levinson viết: “Một vài người trong số họ còn chưa biết lái… ô tô, nói gì đến máy bay phản lực”!
“Trâu mộng” thắng “thần sấm”
Nghe chúng tôi nói đến chuyện phi công ta không biết lái ô tô, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân ngắt lời: “Không chỉ có vài người đâu mà tất cả. Có nhiều anh còn chưa biết đi xe đạp nữa chứ. Nhưng thời kỳ này, toàn bộ ý chí, tâm huyết của mọi người đều tập trung cho chiến thắng nên học và rút kinh nghiệm chiến đấu cũng nhanh hơn”. Dù đã từng lái hàng chục chiếc máy bay nhiều kiểu loại, nhưng ông vẫn nhớ nhất hai chiếc: “Ba tư” và “Ba sáu” (tức chiếc máy bay số hiệu 4326-hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Phòng không-Không quân). Hai chiếc máy bay này, phần chủ yếu do được kíp thợ máy giỏi chăm sóc, phần do may mắn trong khi chiến đấu ít bị thương tích, máy móc luôn hoạt động rất tốt, nên thường được chọn để trực chiến, đến mức mọi người gọi vui đây là hai con “trâu mộng”. Cái lối đặt biệt danh ấy thì chắc chỉ có trong không quân Việt Nam mà thôi. Tôi tò mò: “Thế sao không đặt một biệt danh gì liên quan đến bầu trời hay một loài chim dũng mãnh nào đó như phi công các nước vẫn thường đặt cho máy bay của mình?”-Thượng tướng Phạm Thanh Ngân cười đôn hậu: “Anh em phi công chúng mình hồi ấy chủ yếu là con em nông dân, mà đối với nhà nông có được “trâu mộng” thì tuyệt nhất còn gì”!
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân có một kỷ vật rất quý là cuốn sổ ghi chép. Ông đã ghi chép cẩn thận những sự kiện liên quan đến những trận không chiến diễn ra hồi đó. Theo ghi chép của ông thì ông đã lái “trâu mộng Ba tư” xuất kích đánh địch 6 lần, bắn rơi hai chiếc “Thần sấm” (F-105). Hai chiếc “Con ma” (F-4) đã bị ông bắn rơi khi lái “trâu mộng Ba sáu”. Trên bộ quân phục đại lễ của ông luôn gắn 8 chiếc huy hiệu Bác Hồ. Phi công nào bắn rơi một máy bay địch đều được Bác Hồ thưởng một huy hiệu. Ông là một trong những phi công đầu tiên được nhận phần thưởng này. “Thế còn phần thưởng cho máy bay thì sao?”. Bác Hồ quyết định, mỗi lần chiếc máy bay nào lập công bắn rơi một máy bay địch sẽ được sơn một ngôi sao đỏ lên hai bên thân phía trước, “trâu mộng Ba tư” được sơn 14 ngôi sao nghĩa là 14 lần lập công đấy”.
Mặc dù đã giữ những cương vị cao trong Đảng và quân đội người cựu phi công ấy vẫn luôn giản dị, điềm đạm, khiêm nhường, ít muốn nói về mình. Nhưng khi kể về những trận không chiến thời ấy, trong khoảnh khắc, ông như sống lại một thời tuổi trẻ, đôi tay diễn tả lại đường bay của máy bay ta và địch thật dẻo…
Hà Nội tháng 7-2009
TRẦN THANH