Trải qua gần 3 thập kỷ, cơ chế này từng bước khẳng định vai trò trong tham mưu, tổ chức lực lượng, huy động nguồn lực, ứng phó các tình huống sự cố, thiên tai, thảm họa. Tuy nhiên, trước những biến đổi ngày càng phức tạp của môi trường an ninh truyền thống, phi truyền thống đặt ra yêu cầu mới, Ban chỉ đạo (BCĐ) Phòng thủ dân sự (PTDS) quốc gia được thành lập nhằm tổ chức lại các thiết chế chỉ đạo liên ngành. Đây là bước phát triển trong tư duy lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước: Từ chủ yếu ứng cứu khi sự cố xảy ra sang chủ động phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó và khắc phục hậu quả mọi tình huống khẩn cấp.
 |
| Trực thăng vận chuyển hàng cứu trợ nhân dân vùng bị nước lũ cô lập ở Nghệ An, tháng 7-2025. Ảnh: KHÁNH TRÌNH |
Dấu mốc hình thành cơ chế chỉ đạo quốc gia
Việt Nam thường xuyên chịu tác động của bão, lũ, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn và nhiều loại hình thiên tai khác. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, quy mô hoạt động hàng hải, hàng không, khai thác dầu khí, giao thông vận tải, xây dựng và đô thị hóa ngày càng lớn, kéo theo những nguy cơ sự cố phức tạp hơn.
Những năm đầu thập niên 1990, công tác cứu hộ, cứu nạn (CHCN) còn phân tán theo ngành, lĩnh vực; việc trao đổi thông tin, huy động lực lượng, phương tiện giữa các bộ, ngành, địa phương chưa có một đầu mối thống nhất. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng cơ chế chỉ đạo đủ tầm để xử lý những tình huống khẩn cấp vượt ra ngoài phạm vi của một ngành hay một địa phương.
Ngày 23-10-1996, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ủy ban Quốc gia TKCN trên không và trên biển. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về TKCN, đồng thời tạo cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và LLVT phối hợp chặt chẽ hơn trong tổ chức chỉ huy, huy động lực lượng và sử dụng nguồn lực.
Trong quá trình hoạt động, cơ chế này từng bước được mở rộng cả về phạm vi nhiệm vụ và tên gọi: Từ Ủy ban Quốc gia TKCN trên không và trên biển (năm 1996), Ủy ban Quốc gia TKCN (năm 2000) đến Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN (năm 2014). Qua mỗi giai đoạn, yêu cầu thực tiễn lại đặt ra những nhiệm vụ mới, đòi hỏi cơ chế chỉ đạo phải không ngừng hoàn thiện; hệ thống chỉ huy, điều hành từng bước được chuẩn hóa; năng lực phối hợp liên ngành, huy động lực lượng, phương tiện trong tình huống khẩn cấp ngày càng được nâng cao. Trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt với lực lượng rộng khắp, khả năng cơ động cao, phương tiện chuyên dụng và kinh nghiệm thực tiễn phong phú.
Dấu ấn hoạt động của các ủy ban được thể hiện qua công tác chỉ đạo ứng phó hiệu quả với nhiều đợt thiên tai lớn, sự cố đặc biệt nghiêm trọng cả trên đất liền, trên biển, trên không và hoạt động hỗ trợ nhân đạo quốc tế, như: Sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ năm 2007; sập hầm Thủy điện Đạ Dâng – Đạ Chomo ở Lâm Đồng năm 2014; bão số 12 (Damrey) và chìm tàu tại Quy Nhơn năm 2017; vụ cháy tại Nhà máy Bóng đèn và phích nước Rạng Đông (Hà Nội) năm 2019; mưa lũ, sạt lở tại Thủy điện Rào Trăng 3 và Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337, Trà Leng ở miền Trung năm 2020; bão số 3 (Yagi) năm 2024; lật tàu Vịnh Xanh 58 năm 2025; hỗ trợ khắc phục thảm họa động đất tại một số quốc gia... và nhất là phòng, chống đại dịch Covid-19 vô cùng phức tạp trên phạm vi cả nước.
 |
| Diễn tập phòng thủ dân sự ứng phó với siêu bão và tìm kiếm cứu nạn tại TP Hải Phòng. Ảnh: QUANG THIỆN |
Từ ứng cứu đến chủ động phòng ngừa
Thực tiễn cho thấy, trong những tình huống càng khẩn cấp, càng phức tạp thì càng đòi hỏi sức mạnh tổng hợp; hiệu quả ứng phó phải đến từ sự phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa các bộ, ngành, địa phương, LLVT và toàn xã hội. Cùng với đó, các sự cố, thiên tai, thảm họa ngày càng nghiêm trọng, có tính chất tổng hợp, liên ngành, thậm chí xuyên biên giới. Một trận bão lớn có thể gây ngập lụt, mất điện, gián đoạn thông tin, chia cắt giao thông, ô nhiễm môi trường và nguy cơ dịch bệnh... Dịch bệnh quy mô lớn cũng tác động, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi ngành, lĩnh vực và đời sống xã hội. Điều đó cho thấy, việc ứng phó với các sự cố, thiên tai, thảm họa không thể tiếp cận theo từng lĩnh vực riêng lẻ và càng không thể khi sự cố xảy ra mới tổ chức ứng phó. Yêu cầu mới là phải nhận diện nguy cơ từ sớm, chủ động chuẩn bị lực lượng, phương tiện và phương án; tổ chức ứng phó kịp thời và nhanh chóng khắc phục hậu quả, khôi phục hoạt động bình thường của xã hội.
Từ tổng kết thực tiễn hoạt động của Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN cùng những kinh nghiệm của quốc tế, nhận thức về bảo vệ nhân dân từng bước được mở rộng. CHCN vẫn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhưng là một bộ phận trong chu trình PTDS, gồm: Phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó và khắc phục hậu quả, với mục tiêu không chỉ giảm thiểu thiệt hại mà còn nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng, duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và nhanh chóng phục hồi kinh tế-xã hội sau khủng hoảng.
Luật PTDS năm 2023 được ban hành là bước phát triển quan trọng về thể chế, quy định thống nhất về tổ chức, hoạt động PTDS; xác định nguyên tắc chỉ đạo, phân công trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, địa phương và LLVT; khẳng định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Trên cơ sở đó, các quy định của Luật tiếp tục được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với yêu cầu thực tiễn; ngày 18-9-2026, Văn phòng Quốc hội đã xác thực Văn bản hợp nhất số 132/2026/VBHN-LQ-VPQH về Luật PTDS, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác PTDS trong tình hình mới.
Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với các tình huống khẩn cấp có quy mô lớn, xác định thẩm quyền và cơ chế chỉ huy thống nhất khi tình huống vượt quá khả năng xử lý thông thường. Những bước phát triển về pháp luật tạo cơ sở ngày càng đồng bộ cho việc kết nối PTDS, phòng, chống thiên tai, ứng phó sự cố và quản lý tình trạng khẩn cấp.
Trên nền tảng pháp lý mới, ngày 23-7-2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1585/QĐ-TTg tổ chức lại BCĐ PTDS quốc gia, BCĐ quốc gia về phòng, chống thiên tai, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN thành BCĐ PTDS quốc gia nhằm hình thành một đầu mối chỉ đạo thống nhất đối với những nhiệm vụ có tính liên ngành, cần tổng chỉ huy đồng bộ nhiều cơ quan, lực lượng. Khi một tình huống có thể đồng thời tác động đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, việc thống nhất đầu mối chỉ đạo, điều hành giúp hạn chế chồng chéo, nâng cao khả năng điều phối lực lượng và huy động nguồn lực.
Đây cũng là sự kế thừa những kinh nghiệm đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn công tác ứng phó sự cố, thiên tai, thảm họa, TKCN nhiều năm qua về các nội dung: Công tác chuẩn bị; tổ chức lực lượng; chỉ huy hiện trường; bảo đảm thông tin liên lạc; phối hợp quân sự-dân sự và các lực lượng, các địa phương; huy động nguồn lực và hợp tác quốc tế...
Thực tiễn ứng phó đại dịch Covid-19, các đợt thiên tai nghiêm trọng và hoạt động hỗ trợ nhân đạo quốc tế đã rút ra bài học có ý nghĩa xuyên suốt là: Trước những tình huống lớn, phức tạp, sự lãnh đạo tập trung của Đảng, sự điều hành thống nhất của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương cùng vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ở cấp độ nhỏ hơn, trong phạm vi một địa phương (cấp tỉnh, cấp xã) cũng tương tự như vậy. PTDS không phải nhiệm vụ riêng của một ngành, một lực lượng, chỉ được thực hiện khi có tình huống; mà phải có sự phối hợp đồng bộ, liên ngành và thực hiện ngay từ khâu quy hoạch, xây dựng các kế hoạch, dự án phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... Tất cả đều phải tính đến khả năng phòng ngừa, chống chịu, ứng phó với các nguy cơ có thể xảy ra.
 |
| Đoàn công tác của Văn phòng Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia kiểm tra, chỉ đạo khắc phục sự cố vỡ đập Thủy điện Bắc Khê 1 ở Lạng Sơn do lũ lớn, tháng 10-2025. Ảnh: ANH DŨNG |
Tiếp nối truyền thống, nâng cao năng lực bảo vệ nhân dân
Kỷ niệm 30 năm thành lập Ủy ban Quốc gia TKCN là dịp nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và trưởng thành của cơ chế chỉ đạo quốc gia trong lĩnh vực ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN. Những kết quả và bài học kinh nghiệm tích lũy được qua gần 3 thập kỷ là nền tảng quan trọng để tiếp tục hoàn thiện thể chế và tổ chức, hoạt động của BCĐ PTDS.
Trước yêu cầu nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao, để đáp ứng yêu cầu tổ chức, bảo đảm sự chủ động phòng ngừa, xử lý nhanh và hiệu quả các tình huống phức tạp, khẩn cấp, BCĐ PTDS quốc gia và BCĐ PTDS các cấp đã thường xuyên được quan tâm kiện toàn đủ số lượng, có chất lượng, cơ cấu hợp lý, nâng cao vị thế và năng lực chỉ đạo, điều hành.
Tuy nhiên, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới với rất nhiều nguy cơ, thách thức từ sự biến đổi ngày càng phức tạp của môi trường an ninh truyền thống, phi truyền thống, đòi hỏi BCĐ PTDS quốc gia tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược; hoàn thiện hệ thống pháp luật, kế hoạch PTDS; hiện đại hóa hệ thống chỉ huy, điều hành và cơ sở dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong dự báo, cảnh báo, đánh giá tình hình, hỗ trợ ra quyết định. Cùng với đó là xây dựng lực lượng chuyên trách tinh, gọn, mạnh; tăng cường huấn luyện, diễn tập; mở rộng hợp tác quốc tế và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn dân để chủ động phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó và khắc phục hậu quả mọi tình huống khẩn cấp.
Từ Ủy ban Quốc gia TKCN đến BCĐ PTDS quốc gia là một quá trình phát triển liên tục, kế thừa và đổi mới. Đằng sau sự thay đổi về tên gọi, tổ chức và phương thức chỉ đạo là sự phát triển trong tư duy bảo vệ nhân dân: Không chỉ ứng phó khi xảy ra tình huống hiểm nguy, mà phải chủ động quản trị, nhận diện nguy cơ, chuẩn bị từ sớm, ứng phó kịp thời và phục hồi nhanh sau khủng hoảng. Đây chính là yêu cầu để xây dựng nền PTDS chủ động, hiện đại, hiệu quả; góp phần bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.