Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, đâu là những nội dung trọng tâm trong công tác tham mưu của Phòng KHQS trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới?

Thượng tá Nguyễn Văn Tài: Trong giai đoạn mới, cùng với đổi mới toàn diện, công tác tham mưu của Phòng KHQS sẽ tập trung vào những nội dung trọng tâm, cấp thiết: Về khoa học kỹ thuật quân sự, tập trung tham mưu nghiên cứu, ứng dụng, tiếp nhận và từng bước làm chủ các công nghệ mới, công nghệ nền, công nghệ lõi và công nghệ chiến lược; nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa trang bị kỹ thuật hóa học; gắn nghiên cứu khoa học với các yêu cầu nhiệm vụ của Binh chủng. Về khoa học nghệ thuật quân sự, chủ động nghiên cứu, nắm chắc đối tượng, dự báo sớm tình hình, kịp thời tham mưu xử lý các tình huống; chú trọng hoàn thiện hệ thống lý luận cấp chiến dịch, chiến lược, nghiên cứu nghệ thuật bảo đảm hóa học trong các loại hình tác chiến mới; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống điều lệnh, điều lệ, tài liệu huấn luyện, tài liệu dạy học phù hợp trong tình hình mới.

Thượng tá Nguyễn Văn Tài. 

Đối với công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học sau chiến tranh và bảo vệ môi trường, Phòng KHQS tiếp tục tham mưu triển khai đồng bộ các nhiệm vụ điều tra, khảo sát, đánh giá các khu vực ô nhiễm; nghiên cứu, lựa chọn và ứng dụng công nghệ xử lý phù hợp; nâng cao năng lực quan trắc, cảnh báo, ứng phó và xử lý sự cố hóa chất độc, phóng xạ và môi trường, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, phục hồi môi trường và phát triển kinh tế-xã hội.

PV: Đồng chí có thể nói rõ hơn về công tác tham mưu khắc phục hậu quả chất độc hóa học sau chiến tranh?

Thượng tá Nguyễn Văn Tài: Từ tham mưu của Phòng KHQS, thủ trưởng Binh chủng Hóa học đã chỉ đạo khoanh vùng, cô lập và xử lý nhiều khu vực ô nhiễm, góp phần hạn chế nguy cơ phát tán chất độc ra khu dân cư, nguồn nước và chuỗi thực phẩm. Như tại sân bay A So, khoảng 39.000m³ đất nhiễm đã được xử lý, phục hồi môi trường và hoàn trả 9,3ha đất sạch, tạo chuyển biến rõ rệt tại một địa bàn từng chịu ảnh hưởng nặng nề; đã thu gom, xử lý triệt để hơn 1.100 tấn chất độc CS, sản phẩm thủy phân chất độc CS tại các khu vực thuộc các Quân khu 4, 5, 7, 9. Đối với sân bay Phù Cát, các hoạt động xử lý đất nhiễm dioxin và chuẩn bị dự án tiếp tục được triển khai theo lộ trình... Quan trọng hơn, từ thực tiễn triển khai các nhiệm vụ, dự án trong nhiều năm qua, Binh chủng Hóa học đã tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực từ điều tra, lấy mẫu, phân tích, đánh giá đến tổ chức xử lý, kiểm soát chất lượng và giám sát an toàn môi trường. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục nâng cao tính tự chủ, hạn chế phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài. Đến nay, chúng tôi đã làm chủ nghiên cứu, chế tạo hệ thống xử lý đất nhiễm dioxin bằng công nghệ nhiệt và sẽ áp dụng xử lý tại sân bay Phù Cát trong thời gian tới.

Thiếu tướng Nguyễn Đình Hiền (đứng hàng đầu, thứ hai, từ phải sang), Tư lệnh Binh chủng Hóa học kiểm tra công tác ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số tại Nhà máy X61, Binh chủng Hóa học. Ảnh: LƯƠNG HUẤN 

Cùng với xử lý ô nhiễm, tới đây, chúng tôi tiếp tục tham mưu nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, cảnh báo và ứng phó các sự cố môi trường; gắn xử lý môi trường với các chương trình hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học, góp phần ổn định đời sống, phục hồi môi trường và bảo đảm an sinh xã hội...

PV: Để nâng cao hiệu quả đầu tư và đưa nhanh hơn các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, công tác quản lý hoạt động khoa học, công nghệ sẽ đổi mới theo hướng nào, thưa đồng chí?

Thượng tá Nguyễn Văn Tài: Chúng tôi xác định phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý khoa học, công nghệ theo hướng thực chất, hiệu quả, lấy chất lượng sản phẩm và khả năng ứng dụng trong thực tiễn làm thước đo theo phương châm “6 rõ”. Việc đánh giá cũng phải được thực hiện xuyên suốt từ khi đề xuất, phê duyệt đến nghiệm thu và đưa kết quả vào sử dụng, bảo đảm rõ địa chỉ ứng dụng, đơn vị tiếp nhận ngay từ đầu; sau nghiệm thu tiếp tục kiểm chứng trong thực tiễn...

PV: Những nhiệm vụ trên đều cần có tiềm lực khoa học, công nghệ mạnh cùng nguồn nhân lực chất lượng. Phòng KHQS có giải pháp nào cho vấn đề này, thưa đồng chí?

Thượng tá Nguyễn Văn Tài: Phòng KHQS tiếp tục tham mưu đầu tư, nâng cấp hệ thống phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu và trang thiết bị theo hướng đồng bộ, hiện đại, gắn đầu tư với yêu cầu nghiên cứu, làm chủ công nghệ và giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của Binh chủng, nhất là trong những lĩnh vực đặc thù. Đồng thời, chú trọng tham mưu xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, chuyên gia và cán bộ quản lý khoa học có trình độ chuyên môn sâu, năng lực số, ngoại ngữ và khả năng làm việc liên ngành; tăng cường hợp tác với các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu trong và ngoài Quân đội; thu hút nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao...

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!