Phóng viên (PV): Điều gì thôi thúc Đảng ủy, chỉ huy Đoàn KT-QP 345 quyết định xây dựng mô hình “Mỗi tuần một bản tin tuyên truyền song ngữ đến thôn bản”, thay vì tiếp tục duy trì các hình thức tuyên truyền truyền thống, thưa đồng chí?
 |
| Đại tá Nguyễn Hữu Cảnh. Ảnh: MINH TÂM |
Đại tá Nguyễn Hữu Cảnh: Địa bàn vùng dự án của Đoàn gồm 5 xã: Trịnh Tường, Cao Sơn, A Mú Sung, Pha Long và Y Tý với 134 thôn, bản, hơn 57.300 nhân khẩu; trong đó có 4 xã biên giới, 34 thôn, bản biên giới trải dài hơn 90km đường biên. Đây là nơi nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống như: Mông, Dao, Hà Nhì, Giáy, Tày, Xá Phó..., điều kiện tự nhiên phức tạp, dân cư phân tán, trình độ tiếp cận thông tin giữa các khu vực chưa đồng đều.
Trong nhiều năm, cán bộ đơn vị vẫn duy trì tuyên truyền trực tiếp tại thôn, bản và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn một số hạn chế. Không ít người cao tuổi, phụ nữ và đồng bào vùng sâu gặp khó khăn khi tiếp nhận thông tin bằng tiếng phổ thông. Nhất là nội dung về pháp luật, bảo vệ biên giới, phòng, chống ma túy, tảo hôn, xuất, nhập cảnh trái phép, thông tin xấu độc... nếu chỉ truyền đạt theo cách cũ thì hiệu quả chưa thật sự như mong muốn.
 |
Nhân viên quân y Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 345 khám bệnh cho người dân trên địa bàn đóng quân. Ảnh: MINH TÂM
|
Trong khi đó, điện thoại thông minh, loa truyền thanh, loa kéo và các nhóm Zalo ở cơ sở ngày càng phổ biến. Chúng tôi đặt vấn đề: Vì sao không tận dụng chính những phương tiện ấy để đưa thông tin chính thống đến với đồng bào bằng ngôn ngữ mà bà con dễ nghe, dễ hiểu, dễ nhớ? Từ thực tiễn đó, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã chỉ đạo các đội sản xuất phối hợp với già làng, trưởng bản, người có uy tín, đoàn viên, phụ nữ, cựu chiến binh địa phương xây dựng mô hình “Mỗi tuần một bản tin tuyên truyền song ngữ đến thôn bản”.
PV: Có ý kiến cho rằng, trong thời đại công nghệ số, chỉ cần đưa thông tin lên mạng xã hội là người dân có thể tiếp cận. Vậy vì sao đơn vị vẫn kiên trì kết hợp giữa công nghệ với phương pháp dân vận truyền thống?
Đại tá Nguyễn Hữu Cảnh: Đây là vấn đề chúng tôi rất quan tâm trong quá trình triển khai mô hình. Công nghệ số mở ra nhiều phương thức tiếp cận mới, nhưng nếu tuyệt đối hóa công nghệ sẽ khó đạt mục tiêu dân vận trên địa bàn đặc thù. Thực tế cho thấy, ở nhiều thôn, bản vùng cao, không phải hộ nào cũng có điện thoại thông minh hoặc điều kiện kết nối internet ổn định. Ngay cả khi nhận được bản tin, không phải ai cũng hiểu hết nội dung nếu thiếu sự giải thích, trao đổi trực tiếp của cán bộ cơ sở. Vì vậy, ngay từ đầu chúng tôi xác định công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ, còn con người vẫn là yếu tố quyết định hiệu quả tuyên truyền.
 |
|
Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân được cán bộ, nhân viên, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 345 thực hiện thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Ảnh: MINH TÂM
|
Mỗi bản tin đều được lựa chọn chủ đề sát tình hình địa bàn, biên soạn ngắn gọn, dịch sang tiếng dân tộc phù hợp, thẩm định kỹ trước khi thu âm rồi phát qua nhiều kênh như: Loa truyền thanh, loa kéo, nhóm Zalo, điện thoại của trưởng thôn, bí thư chi bộ, người có uy tín; đồng thời lồng ghép trong các cuộc họp thôn, sinh hoạt cộng đồng, phiên chợ hay các đợt công tác dân vận của đơn vị. Sau khi phát bản tin, cán bộ tiếp tục gặp gỡ, đối thoại, giải đáp những vấn đề bà con còn băn khoăn. Qua đó giúp thông tin không chỉ được truyền đi mà còn được tiếp nhận đầy đủ, đúng bản chất.
Đến nay, mô hình đã duy trì nền nếp với 22 bản tin song ngữ, tổ chức 58 lượt phát tại nhà văn hóa, trường học, điểm sinh hoạt cộng đồng và phiên chợ; hơn 8.500 lượt cán bộ, đảng viên và nhân dân được nghe các bản tin. Điều đáng mừng là nhiều người dân phản ánh họ hiểu rõ hơn các quy định về bảo vệ biên giới, phòng, chống tảo hôn, tác hại của ma túy, nguy cơ xuất, nhập cảnh trái phép cũng như thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội của các đối tượng xấu. Đó chính là minh chứng rõ nhất cho hiệu quả của cách làm này.
PV: Bên cạnh những kết quả tích cực, mô hình chắc vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Đơn vị làm gì để mô hình thực sự phát huy hiệu quả lâu dài?
Đại tá Nguyễn Hữu Cảnh: Bất cứ mô hình nào khi mới triển khai cũng đều phải trải qua quá trình hoàn thiện. Qua thực tiễn triển khai, một số bản tin trong thời gian đầu còn khá dài, cách diễn đạt chưa thật gần với ngôn ngữ đời sống của đồng bào. Đội ngũ cán bộ biết tiếng dân tộc chưa đồng đều, việc biên dịch một số ngôn ngữ vẫn phải nhờ sự hỗ trợ của giáo viên, già làng, người có uy tín của địa phương. Hạ tầng viễn thông tại một số thôn, bản chưa ổn định; nhiều hộ chưa có điện thoại thông minh nên việc tiếp cận bản tin vẫn chủ yếu thông qua loa truyền thanh hoặc loa kéo... Do đó, cán bộ đơn vị vẫn thường xuyên xuống cơ sở, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc với bà con, lắng nghe tâm tư, giải đáp những điều đồng bào còn băn khoăn.
Qua gần hai năm triển khai, chúng tôi rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Muốn tuyên truyền hiệu quả phải sử dụng tiếng nói của đồng bào, diễn đạt làm sao để đồng bào dễ tiếp nhận; nội dung phải ngắn gọn, đúng trọng tâm, gắn với những vấn đề người dân đang quan tâm. Đặc biệt, bản tin tiếng dân tộc phải được thẩm định chặt chẽ trước khi phát hành, bảo đảm phù hợp phong tục, tập quán từng địa phương. Đồng thời, phải phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, bí thư chi bộ, người có uy tín và lực lượng trí thức trẻ tình nguyện. Đây chính là những "cầu nối" trực tiếp giữa đơn vị với nhân dân.
Điều khiến chúng tôi phấn khởi nhất không phải là số lượng bản tin đã phát hành, mà là sự thay đổi trong nhận thức và hành động của đồng bào. Khi bà con chủ động hỏi cán bộ về quy định pháp luật, tích cực tham gia bảo vệ đường biên, mốc giới, mạnh dạn tố giác các hành vi vi phạm, vận động con em đến trường, từ bỏ tập tục lạc hậu..., đó mới là thước đo thực chất của hiệu quả công tác dân vận.
PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!