Ngày 8-2-1968, Trung đoàn 9 nhận nhiệm vụ vây lấn tập đoàn cứ điểm Tà Cơn. Trước đó hai ngày, trên đường cơ động vào trận địa, đội hình của Trung đoàn 9 bị máy bay B-52 đánh trúng, làm gần 300 cán bộ, chiến sĩ thương vong và hư hỏng nhiều vũ khí, trang bị. Đây là tổn thất rất lớn trước giờ nổ súng. Mặc dù có ý kiến đề nghị đưa Tiểu đoàn 2 ra phía sau củng cố, Đảng ủy Trung đoàn quyết định bổ sung quân số, vũ khí ngay tại chỗ, đồng thời tập trung động viên bộ đội nhanh chóng ổn định tư tưởng, tiếp tục chiến đấu.

Trung đoàn 9 là lực lượng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ vây lấn Tà Cơn; Trung đoàn 24 và Trung đoàn 66 làm nhiệm vụ cơ động tiêu diệt quân địch đến giải tỏa. Trung đoàn 9 bố trí hai cụm chốt: Cụm chủ yếu ở phía Đông Nam sân bay Tà Cơn, cách tuyến phòng ngự của địch từ 300 đến 500m; cụm phía Tây do Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm, khống chế cả cao điểm 471. Sau gần một tháng chiến đấu, Tiểu đoàn 1 bị tổn thất nặng. Ngày 11-3-1968, tôi chỉ huy Tiểu đoàn 3 vào thay thế.

Quân Giải phóng tiến công căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh, năm 1968. Ảnh tư liệu  

Nhiệm vụ của các chốt là dùng hỏa lực tiêu diệt quân cơ động, phá hủy lô cốt, ụ súng tiền duyên, đồng thời đào hào áp sát, buộc địch phải đưa quân ra phản kích để ta tiêu diệt ngoài công sự. Ban đầu, đơn vị áp dụng phương pháp đào bí mật như ở Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng tiến độ rất chậm. Sau khi bàn bạc với Ban chỉ huy Tiểu đoàn, tôi quyết định chuyển sang đào lộ thiên vào ban đêm dưới sự yểm hộ của hỏa lực. Mỗi người mang theo bao cát làm vật che chắn, đào nhanh hố cá nhân rồi tiếp tục mở rộng chiến hào. Phương pháp mới giúp mỗi đêm đào được từ 20 đến 30m, đáp ứng yêu cầu tiến độ, dù mức độ thương vong cũng tăng lên.

Đúng 0 giờ 30 phút ngày 24-3-1968, pháo binh ta bắn chế áp sở chỉ huy và trận địa pháo địch; các loại hỏa lực bắn thẳng tiêu diệt lô cốt, ụ súng, tạo điều kiện cho tổ bộc phá mở cửa. Trận đánh diễn ra quyết liệt, ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều công sự. Ngày 26-3-1968, hai đại đội quân Mỹ phản kích vào chốt 1 nhưng bị quân ta đánh bật, hơn 50 tên bị tiêu diệt. Hai ngày sau, trên hướng Tây, hai đại đội quân Mỹ và một đại đội quân ngụy tiếp tục tiến công các chốt của Tiểu đoàn 2 nhưng đều thất bại. Trên hướng Bắc, Trung đoàn 66 khống chế đường băng sân bay Tà Cơn, buộc địch phải tiếp tế bằng đường không, phần lớn hàng hóa rơi vào trận địa của ta.

Sau khoảng hai tháng bị vây lấn, hàng nghìn quân Mỹ ở Tà Cơn rơi vào tình trạng hết sức khó khăn. Số lính bị chết, bị thương không đưa ra được; lương thực, đạn dược, nước sinh hoạt đều thiếu thốn. Trước nguy cơ Tà Cơn thất thủ, quân Mỹ buộc phải điều Sư đoàn Kỵ binh đường không số 1 đến giải tỏa. Nắm chắc ý đồ của địch, Bộ tư lệnh Mặt trận và Sư đoàn 304 giao Tiểu đoàn 3 lập thêm chốt Làng Khoai nhằm chặn Đường 9-tuyến rút lui duy nhất từ Khe Sanh về Đông Hà. Chỉ trong hai ngày (ngày 1 và 2-4-1968), với sự tăng cường của một đại đội công binh, đơn vị chúng tôi khẩn trương xây dựng hệ thống chiến hào, công sự và bố trí hỏa lực. Do quân số hao hụt, chốt chỉ có gần 40 cán bộ, chiến sĩ do Đại đội phó Bùi Gia Ngoãn và Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Nguyễn Văn Bình chỉ huy.

Ngày 4-4-1968, sau khi sử dụng máy bay và pháo binh bắn phá dữ dội, một tiểu đoàn kỵ binh không vận của Mỹ chia làm hai mũi tiến công vào chốt. Bộ đội ta kiên trì chờ địch vào gần mới đồng loạt nổ súng, kết hợp hỏa lực tại chỗ với pháo binh của trung đoàn, sư đoàn chặn đội hình phía sau. Trong ngày, địch mở 7 đợt tiến công nhưng đều bị đánh bại, hơn 100 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tuy nhiên, trận địa của ta cũng bị tàn phá nặng, nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh, bị thương. Tiêu biểu là đồng chí Đại đội phó Bùi Gia Ngoãn, dù bị gãy chân trong khi chỉ huy chiến đấu nhưng vẫn kiên quyết không rời trận địa. Đồng chí Ngoãn lệnh cho chiến sĩ kéo chân gãy của mình cho thẳng ra rồi tự tay cắt phần chân bị gãy, băng bó lại, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu đến khi hy sinh (liệt sĩ Bùi Gia Ngoãn đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân). Sau trận đánh, tôi chỉ huy lực lượng phía sau khẩn trương khôi phục chiến hào tuyến một, bổ sung quân số, vũ khí và tiếp tục giữ vững trận địa.

Ngày 5-4-1968, địch tiếp tục 5 lần tiến công nhưng đều thất bại. Từ ngày 6 đến 7-4, chúng thay lực lượng bằng một tiểu đoàn kỵ binh không vận khác với quyết tâm nhổ bằng được chốt Làng Khoai, song tiếp tục bị đánh thiệt hại nặng. Sau 4 ngày chiến đấu liên tục, cán bộ, chiến sĩ ta ở chốt Làng Khoai đã đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn kỵ binh không vận của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 400 tên, góp phần bẻ gãy kế hoạch giải tỏa Tà Cơn, tạo điều kiện để Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh giành thắng lợi vào ngày 15-7-1968.

Qua quá trình trực tiếp tham gia Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh năm 1968, tôi rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, mục tiêu chiến dịch. Khe Sanh là hướng tiến công phối hợp chiến lược với toàn chiến trường miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Nhiệm vụ của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, chủ yếu là quân Mỹ; đồng thời nghi binh chiến lược, thu hút và giam chân càng nhiều lực lượng cơ động của Mỹ càng lâu càng tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác tiến công.

Thực tiễn chiến dịch đã chứng minh chủ trương đó hoàn toàn đúng đắn. Quân ta đã buộc Mỹ phải điều động và giam chân suốt 7 tháng hai lực lượng cơ động mạnh nhất là Sư đoàn Thủy quân lục chiến và Sư đoàn Kỵ binh không vận. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 11.000 tên địch, chủ yếu là quân Mỹ; giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần phía Tây tỉnh Quảng Trị, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Hai là, nắm chắc tình hình địch, vận dụng nghệ thuật tác chiến linh hoạt, sáng tạo. Địch ở Khe Sanh có lực lượng đông, hỏa lực mạnh, được pháo binh, không quân chi viện với cường độ lớn và xây dựng hệ thống công sự, trận địa phòng ngự rất kiên cố. Nếu sử dụng lực lượng lớn tiến công trực diện vào cụm cứ điểm Tà Cơn thì ta sẽ chịu tổn thất nặng nề, khó giành thắng lợi.

Từ chỗ nắm chắc tình hình, đặc điểm đó, ta đã lựa chọn cách đánh phù hợp: Thực hiện chiến thuật vây lấn, từng bước tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài, đồng thời bao vây, khống chế các khu vực trọng yếu trong tập đoàn cứ điểm, buộc địch phải liên tục đưa lực lượng cơ động ra giải tỏa. Khi quân địch rời khỏi công sự, ta tập trung lực lượng tiêu diệt. Đây là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật tác chiến "vây điểm, diệt viện", góp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch.

Ba là, phát huy cao độ bản lĩnh, ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh hiệp đồng của các lực lượng. Chiến thắng Đường 9-Khe Sanh là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của 3 thứ quân và thế trận chiến tranh nhân dân. Trong suốt chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng, tinh thần chiến đấu kiên cường, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, kiên quyết bám trụ trận địa, liên tục tiến công, đánh bại nhiều đợt giải tỏa của các lực lượng cơ động Mỹ-ngụy, buộc địch cuối cùng phải rút khỏi Khe Sanh.