Để cứu vãn tình hình, cuối năm 1951, chúng mở cuộc tiến công ra Hòa Bình, lập “phòng tuyến sông Đà” nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại “hành lang Đông-Tây”, nhằm tăng cường khả năng phòng thủ Đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với các Liên khu 3 và 4. Với tầm nhìn chiến lược, sự linh hoạt, sáng tạo, quân ta đã chọc thủng “phòng tuyến sông Đà”, góp phần thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình.

Xe tăng và trận địa hỏa lực của quân Pháp bị bộ đội ta tiêu diệt trong Chiến dịch Hòa Bình cuối năm 1951, đầu 1952. Ảnh tư liệu

Giữa tháng 11-1951, sau khi chiếm được thị xã Hòa Bình, với lực lượng đông, được trang bị vũ khí hiện đại, thực dân Pháp nhanh chóng cấu trúc hệ thống phòng ngự dã chiến gần 30 cứ điểm lớn, nhỏ; tổ chức tuyến phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu sông Đà-Ba Vì (Phân khu Bắc), Phân khu Hòa Bình-Đường 6 (Phân khu Nam). Ngoài ra, Phân khu Chợ Bến (Phân khu tiền đồn phía Đông), có nhiệm vụ bảo vệ thị xã Hòa Bình. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương, hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm của địch xuất hiện.

Trong cuốn Tổng tập hồi ký, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2006, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Một hình thái phòng ngự mới của quân Pháp ở miền rừng núi. Nó hoàn toàn khác với các cứ điểm của địch trước đây. Khi tiến đánh một cứ điểm nằm trong một hệ thống, bộ đội ta lúc nào cũng bị đạn bắn thẳng của địch đe dọa từ nhiều phía, có khi từ cả 4 phía”.

Để bảo đảm vững chắc hơn cho 2 phân khu trên, trên tuyến vận tải thủy chạy từ Trung Hà ngược lên thị xã Hòa Bình (dài 60km), thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập “phòng tuyến sông Đà” với nhiều cứ điểm chạy dọc hai bên bờ sông Đà, như: Trung Hà, La Phù, Đan Thê, Đồng Tâm, Đá Chông, Chẹ, Tu Vũ, Pheo...

Tại mỗi cứ điểm, thực dân Pháp bố trí từ 1 đến 2 đại đội bộ binh đóng giữ. Riêng tại các vị trí quan trọng, như: Pheo, Chẹ, Đá Chông, Tu Vũ... có 3 đại đội bộ binh, được tăng cường trung đội xe tăng và trung đội pháo binh đóng giữ. Chúng chia “phòng tuyến sông Đà” thành 2 khu then chốt phòng ngự: La Phù-Đan Thê và Tu Vũ-núi Chẹ. Mỗi nơi địch bố trí 2 tiểu đoàn bộ binh, ngoài ra có một tiểu đoàn nhảy dù ở Đá Chông.

Các cứ điểm trên “phòng tuyến sông Đà” cũng được bố trí chặt chẽ, trong thế liên hoàn, yểm trợ lẫn nhau và hỗ trợ chi viện được cho nhiều vị trí ngoài phạm vi của “phòng tuyến” trong trường hợp bị ta tiến công. Đánh giá về “phòng tuyến sông Đà”, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận định: “Các cứ điểm ở Hòa Bình tuy đã được củng cố nhưng vẫn còn là công sự dã chiến, chúng liên kết với nhau thành một hệ thống nhưng vẫn nằm rải trên những tuyến dài, trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta.

Trở ngại lớn trong các trận đánh không chỉ là lực lượng chiếm đóng vị trí mà còn là hỏa lực chi viện từ xa của những trận địa pháo được tính toán rất kỹ lưỡng” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2006).

Ngày 2-12-1951, tại hội nghị cán bộ, sau khi phân tích những ưu, nhược điểm của tuyến phòng ngự Hòa Bình nói chung, “phòng tuyến sông Đà” nói riêng, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đề ra chủ trương tác chiến trên mặt trận sông Đà, trong đó nhấn mạnh: Để phá vỡ “phòng tuyến sông Đà”, Bộ quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt Tu Vũ và núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên Hữu ngạn. Đánh núi Chẹ và Hữu ngạn thì địch có thể bị bất ngờ, ít nhất cũng giúp cho việc tiêu diệt Tu Vũ được thuận tiện hơn. Nếu địch chiếm lại, thì tranh thủ tiêu diệt lần nữa. Có thể đưa thêm lực lượng sang Hữu ngạn để tùy theo tình hình cụ thể mà phát triển lên trên hay xuống dưới.

Thực hiện chỉ thị của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, sau khi tổ chức nắm tình hình địch trên mặt trận sông Đà, đầu tháng 12-1952, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị về vận dụng chiến thuật, phân tích rõ đặc điểm chiến trường, thuận lợi cho ta giấu quân và tác chiến, địch mới chiếm đóng, công sự chưa kiên cố, bộ độ ta qua chỉnh huấn có nhiều tiến bộ, nhưng có khó khăn là địa hình hẹp, đường giao thông ít, có sông lớn, địch bố trí tương đối tập trung thành cụm lớn, có nhiều binh chủng yểm hộ cho nhau.

Do vậy, yêu cầu về chiến thuật trong hành quân phải tuyệt đối giữ bí mật, di chuyển vào ban đêm, bố trí cảnh giới nghiêm ngặt; trú quân phải xa đường cái lớn, cấm khói lửa ban ngày...; vượt sông phải có kế hoạch cảnh giới nghiêm mật đề phòng máy bay địch phát hiện.

Cho một bộ phận sang trước lập đầu cầu, tổ chức vượt sông phải có kế hoạch và trật tự, sang sông xong phải xóa dấu vết và sẵn sàng chiến đấu ngay; đánh công kiên phải có kế hoạch bám sát địch, đề phòng xe cơ giới của địch, kiềm chế pháo binh, cố gắng giải quyết trận đánh trong một đêm, nếu phải kéo dài sang ban ngày phải có kế hoạch đánh quân nhảy dù tại chỗ;... đánh viện binh trên sông phải phân tán hỏa khí, bố trí nhiều chặng trên một tuyến dài và có kế hoạch phòng không tích cực, làm trận địa giả nghi binh, lừa địch.

Đêm 10-12-1951, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 bắt đầu tiến công cứ điểm Tu Vũ-một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự sông Đà, mở đầu Chiến dịch Hòa Bình. Đến mờ giờ sáng hôm sau, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trận đánh làm rung chuyển “phòng tuyến sông Đà” của địch, khai thông đường vận chuyển từ hậu phương Việt Bắc tới mặt trận Hòa Bình, tạo điều kiện làm tan rã “phòng tuyến sông Đà”, khép chặt vòng vây, đánh thẳng vào căn cứ của địch ở thị xã Hòa Bình, góp phần đưa Chiến dịch Hòa Bình đến thắng lợi.