QĐND Online - Bước ra từ cuộc chiến cách nay 4 thập kỷ, ông Trần Minh Thuận bị bom mìn lấy đi đôi mắt và cũng chừng ấy năm ông mò mẫm trên đường đời bằng con mắt thứ ba. Con mắt ấy chính là trái tim người lính được thắp sáng và sưởi ấm bởi những người đàn bà nhân hậu, đảm đang, đức hi sinh cao cả mà theo ông, sự hy sinh của mình chẳng thấm tháp gì so với họ.

Lời hứa từ trái tim

Sâu thẳm cõi lòng thương binh nặng Trần Minh Thuận thôn Hồng Phong (Đông Quang, Đông Hưng, Thái Bình) vẫn in đậm hình ảnh người con gái quê mùa Vũ Thị Rần một nắng, hai sương thuỷ chung chờ đợi chàng trai nơi chiến tuyến trở về. Trong tâm trạng sụt sùi, ông Thuận kể: Chúng tôi cùng lớn lên trên mảnh đất quê nghèo, nhà bên ấy sát vách nhà tôi nên chúng tôi rất thân với nhau. Thuở thiếu thời, tôi và bà ấy luôn bên nhau khi lội đồng, đánh dậm, chăn trâu, cắt cỏ,... Những kỷ niệm tuổi thơ đã nuôi chúng tôi khôn lớn, giúp chúng tôi hiểu nhau, thương nhau và cùng thổn thức lời thề hẹn sắt son...

Năm 1969, tôi lên đường nhập ngũ, bỏ lại đằng sau 4 năm làm công nhân giao thông cùng mối tình đầu. Chuyện của hai đứa đôi bên gia đình đều biết, thế là đám hỏi chóng vánh diễn ra như là quà tặng để tiễn tôi lên đường. Biết chiến tranh khốc liệt tàn ác, có ngày đi nhưng chưa chắc đã có ngày trở về, hai đứa gạt nước mắt trao nhau lời hứa từ tận đáy lòng.

Tôi được biên chế vào Tiểu đoàn trinh sát 25 Bộ Tổng Tham mưu, rồi được điều động vào Quảng Trị, nơi cuộc chiến bước vào thời kỳ khốc liệt nhất. Dưới những cánh rừng trơ trọi, héo hon bởi mưa bom, bão đạn và chất độc da cam, năm 1971, tổ trinh sát của tôi được cử đi trinh sát đường mòn ở Hướng Hoá phục vụ xe ta nam tiến. Ba anh em đang dò đường thì một tiếng nổ hất tung lên và tôi ngất lịm được đồng đội đưa về cứu chữa, khi tỉnh dậy tôi vô cùng thất vọng bởi tất cả chỉ còn một màu đen “sâu hoắm”. Sau đó, tôi được đưa đi các bệnh viện để chữa mắt nhưng niềm hy vọng dù mỏng manh cũng không còn.

 Vợ chồng ông Thuận, bà Xuân luôn sát cánh bên nhau trong những lúc vui, buồn

Những ngày đầu ở trung tâm điều dưỡng thương binh sao mà dài làm vậy, tôi nghĩ tới một tương lai quá đỗi xa vời và nỗi niềm về người yêu đang chín đợi, mười chờ nơi quê nhà lòng tôi quặn thắt. Tôi quyết định nhờ đồng đội viết thư về cho Rần nhưng không đề địa chỉ người gửi. Bức thư có đoạn: “... Anh bây giờ đã trở thành người tàn phế, mất đi hai con mắt, đến bản thân cũng không tự lo cho mình được thì làm sao có thể mang lại hạnh phúc cho em được. Ở quê nhà, em gặp ai thương thì hãy lấy họ. Không phải đợi anh nữa...”.

Thư lên đường, lòng tôi nặng trĩu, nhưng vẫn tin rằng người yêu sẽ không thể tìm được địa chỉ và tự nhủ rồi cô ấy sẽ quên mình.

Gần một tháng sau, sự xuất hiện của Rần làm tôi bất ngờ đứng chết lặng. Chúng tôi ôm nhau trong đầm đìa nước mắt.

Rần kể lại rằng, khi nhận được thư, biết anh bị trúng mìn mất đi đôi mắt và 91% sức khoẻ, em đau đớn đến tột cùng, tưởng rằng sẽ không gượng dậy được. Nhưng lời hứa năm xưa cứ thôi thúc đã kéo em ra khỏi vũng lầy của sự đau khổ và quyết tâm đi tìm anh bằng được.

Những người đàn bà nhân hậu

Ở Trung tâm điều dưỡng, Thuận đã hết lời năn nỉ Rần quay về tìm duyên mới, nhưng Rần quyết không lay chuyển và định bụng đi bất cứ đâu cùng người yêu chữa trị, phục hồi sức khoẻ. Hai người đi hết trung tâm này đến trung tâm khác và cả Quân y viện 108. Đến cuối năm 1973 họ đưa nhau về quê làm đám cưới. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thì Rần sinh đứa con đầu lòng. Đứa con trai mà hai vợ chồng đặt bao niềm hy vọng ra đời bị bạch tạng, có hình hài dị dạng bởi di chứng của chất độc màu da cam. đứa bé sống được hai năm thì bỏ vợ chồng Thuận mà đi. Lòng anh tan nát, nhưng vẫn cần đứa con làm chỗ dựa sau này. Hai vợ chồng động viên nhau sinh tiếp và bốn lần mang bầu thì ba đứa con, hai trai, một gái ra đời, lần mang thai thứ ba bị xảy thai. Trong 3 anh em chỉ có Trần Văn Tiện ở giữa là lành lặn khoẻ mạnh, còn người anh cả Trần Văn Tộ bị bạch tạng và cô em út Trần Thị Điệp thì èo uột, yếu ớt bởi di chứng của chất độc da cam. Cả hai anh em họ khi thì cười sằng sặc hoặc khóc sướt mướt, lúc thì lại lăn đùng, ngã ngửa, sùi bọt mép, có khi bỏ đi lang thang, đánh người vô cớ... Gần 30 năm trời nuôi các con, ngoài sự tảo tần của vợ, ông Thuận học cách đan rổ, rá để đỡ đần vợ. Niềm vui hạnh phúc khi cậu con cả xây dựng gia đình (năm 2003) chưa đầy gang tay thì bà Rần ngã bệnh ung thư rồi mất.

“Bà ấy mang theo cả lời hứa và nỗi cực nhọc vì bố con tôi mà đi nhưng vẫn không quên lời trăn trối cùng cô em gái. Thật tội cho bà ấy đến tận lúc nhắm mắt mà vẫn không yên lòng” – Ông Thuận chia sẻ với chúng tôi

Tháng 8 năm 2003, thuận theo lời chị gái, bà Vũ Thị Xuân đang sinh sống ở Điện Biên cùng con gái (trước đó chồng bà bị mất trong một vụ tai nạn giao thông năm 2001) về quê chăm sóc chị. Trước khi mất, bà Rần tâm sự cùng em gái: “Chị chẳng còn sống được mấy bữa nữa. Thôi thì chị trông cậy cả vào dì, nhờ dì chăm sóc anh và các cháu thay chị. Có thế chị mới nhắm mắt được....”. Trước lời trăn trối cuối cùng của chị gái và cái nghĩa, cái tình “xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì” đã khiến bà Xuân không thể làm khác.

 Xe rác mưu sinh của vợ chồng Vũ Thị Tâm và Trần Văn Tộ

Sau khi bà Rần mất, bà Xuân trở lại Điện Biên bán hết nhà cửa, đất đai trở về quê thực hiện lời hứa với chị. Bà biết rằng mọi khó khăn, vất vả đang chờ bà và bà cũng hiểu rằng mọi điều kiện sinh hoạt, làm ăn  ở quê khó hơn ở Điện Biên rất nhiều...

Bà Xuân bộc bạch: “Ông ấy nhà tôi là thương binh nặng nên mỗi khi trái gió trở trời lại lên cơn khó thở, nhiều khi phải cấp cứu lúc nửa đêm, lúc nào cũng kè kè lọ thuốc bên cạnh. Mỗi khi tôi đi làm đồng thì con gái tôi phải ở nhà vừa chăm bố, trông chị, vừa cơm nước. Cũng tội cho con bé phải cuốn theo nỗi gian truân vất vả của đại gia đình, cũng may mà nó hiểu lòng mẹ và thương bố nó bây giờ và các anh chị lắm”. Khi được hỏi về mấy cô con dâu, bà Xuân nở mày, nở mặt: “Nhà tôi được cái phúc cũng dầy. Trước cứ nghĩ là cậu cả phải chấp nhận ở vậy nhưng may mắn thay con Tâm (Vũ Thị Tâm- vợ Tộ) là người tốt bụng. Nhớ cái ngày lúc còn sống chị tôi đánh tiếng hỏi con Tâm cho thằng Tộ nhiều người xì xèo, còn con Tâm nó giãy nảy. Không tin anh cứ hỏi nó mà xem”. Bị mẹ chồng đẩy khéo sang mình, chị Tâm đỏ nựng mặt: “Ừ thì lúc đầu chưa quen với hoàn cảnh như vậy thì ai mà chẳng ngại. Nhưng thấy bà Rần cứ vất vả đi tìm con dâu cho con trai mình thì thương cảm rồi tìm cách giúp đỡ bà Rần, dần thành quen. Với lại bố đẻ tôi cũng bị nhiễm chất độc da cam nên hai chị gái bị phơi nhiễm. Nỗi đau da cam đã đưa tôi đến với gia đình này. Thú thực có lúc cũng cảm thấy tủi thân, người ta lấy làm hai, làm ba còn sung sướng hơn mình, nhưng chính gương của hai bà mẹ chồng đã lấy lại sự thăng bằng cho tôi trong cuộc sống. Tôi rất hạnh phúc khi con trai tôi (cháu Trần Văn Tuyền) mạnh khoẻ, dễ thương lại rất thông minh. Nó là niềm hy vọng để vợ chồng vượt nắng mưa vừa cày cấy, vừa thu gom rác cho xóm làng...” Người con dâu thứ hai của ông bà cũng là người phụ nữ bản lĩnh. Cô gái xứ nghệ Hồ Thị Nghĩa phải vượt qua rào cản của gia đình và họ hàng để đến với Trần Văn Tiện kết tóc se duyên.

Chia tay chúng tôi ông Thuận nói với mọi người lời tri ân sâu sắc: “Chiến tranh lấy đi của tôi nhiều thứ, nhưng bù lại cuộc đời lại ban cho tôi những người phụ nữ tuyệt vời. Tôi còn nợ họ suốt cuộc đời này”.

Câu chuyện như cổ tích giữa đời thường ở miền quê lúa đã nhân lên sức mạnh của tình yêu thương con người, đã chiến thắng cái bản ngã của con người bằng tính nhân văn sâu sắc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những gì nó để lại đã là ngọn lửa thử vàng ròng, làm sáng lên tấm lòng trung trinh, nhân nghĩa của con người Việt Nam.

Bài, ảnh: ĐÀM TUẤN ĐẠT