 |
|
Chị Học (ngoài cùng bên trái) và gia đình anh Thúc).
|
Nhiều người đã biết, “Người không cô đơn” là tên gọi mà nhà văn Minh Chuyên dành cho thương binh nặng Nguyễn Đình Thúc (làng Tống Vũ, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình). Tác phẩm “Người không cô đơn” đã được trao giải nhất bút ký của Tuần báo Văn nghệ năm 1993.
Năm 1976, làng Tống Vũ, xã Vũ Chính, thị xã Thái Bình tổ chức trọng thể lễ truy điệu liệt sĩ Nguyễn Đình Thúc. Cha mẹ anh khóc cạn nước mắt, chỉ mong sao ngày nào đó tìm và đưa được hài cốt anh Thúc về quê. Chẳng ai nghĩ anh còn sống. Thế nhưng…
Tháng 12-1969, đơn vị anh tấn công đoàn xe quân sự GMC của địch chở vũ khí từ Trảng Bàng lên Bến Cát. Trong trận đánh, Thúc bị thương rất nặng. Đồng đội băng bó rồi cõng Thúc vượt rừng đến đội phẫu thuật dã chiến ở một căn cứ ven đường số 6. Ít lâu, có tin đội phẫu thuật bị địch tập kích và Thúc đã hy sinh. Nhưng không phải, khi phát hiện ra đội phẫu, địch bắt sống toàn bộ và 25 thương binh (trong đó có anh Thúc), sau đó chúng đưa về giam ở Biên Hòa. Thoát khỏi tay thần chết, nhưng anh Thúc bị thần kinh, khi tỉnh, khi mê.
Năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất, anh Thúc được đưa ra một trung tâm điều dưỡng thương binh ở miền Trung. Nhưng vì thần kinh, anh bỏ đi lang thang, phiêu bạt khắp nơi, đến cả chợ Cầu Giấy (Hà Nội). Cuối năm 1976, ông bà Châu cùng cô con gái tên Dung (ở khu tập thể Thủ Lệ 1, Cầu Giấy) đã đón anh Thúc về nhà nuôi dưỡng, phục thuốc, như chăm sóc người máu mủ ruột rà. Sau đó, cả nhà đi khắp nơi để tìm lại gia đình cho anh Thúc. Mãi gần 6 năm sau, họ mới đưa được anh Thúc trở về quê hương trong sự ngỡ ngàng của ông bà Tám (bố mẹ anh Thúc) và dân làng Tống Vũ...
Lấy vợ cho... người yêu
Hai nhà chỉ cách nhau cái ngõ nhỏ, lại cùng công tác Đoàn, nên từ lâu anh Thúc đã dành cho chị Học những cảm tình đặc biệt. Đón nhận tình yêu của nhau, họ luôn cố gắng phấn đấu trong lao động và công tác đoàn thể. Năm 1968, trước khi lên đường nhập ngũ, anh Thúc và cha mẹ đã mang trầu cau đến dạm ngõ nhà Học, họ hẹn nhau sau ngày chiến thắng trở về sẽ làm đám cưới.
Anh Thúc lên đường, chị Học ở nhà thay anh chăm sóc bố mẹ già và người em nhỏ, một lòng một dạ chung thủy chờ đợi anh trở về. Nhưng, chiến tranh kết thúc, những ai hy sinh thì có giấy báo tử của đơn vị gửi về. Các anh thương binh cũng lần lượt về gia đình. Chỉ có anh Thúc là bặt vô âm tín. Linh cảm nhiều điều chẳng lành, nhưng chị Học vẫn gắng gượng để động viên tinh thần gia đình anh Thúc. Giữa năm 1976, đơn vị báo tử Nguyễn Đình Thúc, có nỗi buồn đau nào lớn hơn với người vợ chưa cưới sẽ không bao giờ được... làm đám cưới? Chị tiếp tục phải kìm lại trong lòng nỗi đau buồn, để động viên, an ủi cha mẹ anh, hy vọng bù đắp được phần nào nỗi đau của các cụ. Chị cũng không có ý định lập gia đình. Là bí thư đảng ủy xã, chị dành phần lớn thời gian cho công tác…
Năm 1982, anh Thúc bất ngờ trở về. Nhìn những vết thương chằng chịt trên thân hình gầy đét, mặt bé choắt, chị không dám tin đấy là anh Thúc. Nhất là khi nhìn khuôn mặt dằn dữ, khắc khổ trong cơn bệnh hoạn của anh, chị cảm như đó là người xa lạ chưa từng gặp bao giờ. Cái cảm giác mơ hồ lẫn lộn ấy cứ dằn vặt xáo trộn trong lòng chị. Nhưng, chính nhờ bức ảnh của chị mà Thúc nhận ra đó là Học, là người yêu của anh.
Học mừng. Chị vừa lo công việc của một bí thư đảng ủy xã, vừa lo chạy chữa thuốc men cho Thúc, làm mọi thủ tục để Thúc đi điều trị ở các bệnh viện phục hồi chức năng... Sức khỏe Thúc khá lên từng ngày, ai cũng mong ngày hạnh phúc của họ. Niềm vui không tròn trong ánh mắt người phụ nữ. Ngồi bên Thúc trong cơn bệnh dịu bớt, chị nhận ra tình cảm của anh. Học hiểu anh đã cảm nhận lại được tình yêu. Anh muốn được gần chị... Học hiểu, anh phải có con, phải được hạnh phúc, mà chị thì... Học không thể đáp ứng cho Thúc được nữa. Chị bị bệnh u nang đã cắt bỏ buồng trứng... Sau nhiều đêm đấu tranh, dằn vặt, Học quyết định giới thiệu và lo đám cưới cho... chồng chưa cưới với cô bạn gái Nguyễn Thị Mận. Chị mua sắm, lo toan cho một đám cưới chu đáo nhất, chăn, màn, quần, áo, nồi, niêu, xoong, chảo... cho một gia đình đủ cả. Khi những đứa trẻ của vợ chồng họ ra đời, chị cũng thấy mình vô cùng hạnh phúc, lại làm mẹ đỡ đầu, chăm sóc, yêu thương chúng như mẹ đẻ. Các con anh Thúc, chị Mận đều gọi chị Học là mẹ, xưng con thật tình cảm. Chị Học như một người thân không thể thiếu trong gia đình anh Thúc...
Hạnh phúc của “Người không cô đơn”
Đến giờ thì anh Thúc đã có một gia đình hạnh phúc với người vợ đảm đang và 4 cô con gái chăm ngoan, học giỏi. Sau những hy sinh mất mát, giờ đây “Người không cô đơn" thực sự không cô đơn nữa. Anh nhận được tình yêu thương của cả hai người phụ nữ và những đứa con ngoan, hiền... Người vợ chịu thương chịu khó, không nề hà chăm sóc anh những khi trái gió, trở trời. Cuộc đời làm vợ “Người không cô đơn” của người phụ nữ quê lúa tảo tần Nguyễn Thị Mận thật lắm gian truân, nhưng cũng chan chứa tình. Vợ chồng anh chị đã có một căn nhà xinh xắn bên đường 39, cách thành phố Thái Bình 2km, do Đảng bộ và nhân dân xã Vũ Chính xây tặng. Sức khỏe anh Thúc bình phục, nhưng khi trái gió trở trời anh lại tái diễn những cơn đau, tính khí không bình thường. Mỗi lần lên cơn, anh lại túm tóc, bóp cổ, dập đầu chị Mận vào tường, nhiều lần hất đổ cả mâm cơm. Chị Mận quen dần với những trận đòn ấy… Bù lại, mỗi khi nhìn thấy anh Thúc nựng con, chị lại thấy mình thật hạnh phúc, mọi nỗi gian truân tan biến hết. Các con của anh chị đứa nào cũng chăm ngoan, quý mến bố, biết chăm sóc bố và không sợ bố lên cơn, đánh đập. Con gái đầu lòng hiện đang học trường Trung học Tài chính kế toán, cô bé út đã lên lớp 3…
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau của nó, do nó thì dai dẳng mãi, những người trong cuộc thấm thía hơn ai hết. Nhưng, từ trong đau thương, mất mát, hạnh phúc lại nảy mầm, những con người bất hạnh xích lại gần nhau hơn, thân ái với nhau hơn và họ thực sự đã tìm được hạnh phúc khi được sống, được hy sinh vì người khác. Về Thái Bình, thăm cô Học và gia đình anh Thúc, chúng tôi thấy lòng mình ấm lại, bởi biết rằng, bên cạnh anh Thúc còn có nhiều tấm lòng nhân ái luôn dành cho anh...
Bài và ảnh: THẢO VÂN