QĐND - Ngày 25-4-2013 Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 806 QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho nhân dân và lực lượng vũ trang xã Bát Trang (huyện An Lão, Hải Phòng) vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tôi là đứa con ở xa về quê khi chính quyền và người dân địa phương đang chuẩn bị cho sự kiện trọng đại: Đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vào ngày 5-8-2013.

Vững vàng Quán Trang

Từ xưa, Quán Trang quê tôi đã là vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng an ninh của cả vùng vì ba mặt đều là sông bao bọc: Sông Văn Úc phía Tây, sông Lạch Tray vòng phía Bắc, sông Đa Độ uốn lượn phía Nam. Ba con sông bao đời bồi đắp phù sa màu mỡ cho làng và cũng tạo ra nhiều đầm lầy ô trũng, lau sậy rất thuận lợi cho việc phòng thủ trong chiến đấu du kích. Đứng trên núi Voi phóng tầm mắt, làng tôi là cả một cù lao lớn. Vì vậy, suốt đời này qua đời khác, quân xâm lược phía Bắc hễ cứ tràn vào Bát Trang là bị chặn lại. Quán Trang được ví như một pháo đài nằm án ngữ ngay vị trí hiểm yếu nên ngay từ ngày đầu giặc Pháp chiếm đóng Hải Phòng, chúng đã xây đồn bốt hòng chia cắt làng và những địa phương khác để dễ bề cai trị. Nhưng người Quán Trang đâu dễ trị.

Không trị được, chúng lập đồn bốt vây chặt làng, "nội bất xuất ngoại bất nhập". Ấy vậy nhưng người quê tôi vẫn không chịu khuất phục. Những người dân lam lũ, quanh năm chân lấm tay bùn quê tôi vẫn bám trụ, giữ làng.
 

Ông Nguyễn Văn Vi, Bí thư Chi bộ thôn Quán Trang dâng hương tại Đài tưởng niệm các liệt sĩ và nhân dân đã bị địch sát hại. Ảnh: Lê Đức

Ngày ấy, giặc hết nhảy dù vào làng cướp bóc lại dùng ca-nô tấn công bằng đường thủy. Dân làng phải chặt cả ngàn cây tre để rào sông lại không cho giặc lấn tới. Cứ đêm mang tre ra cắm, ngày lại ngụy trang không cho giặc thấy. Làng tự thành lập đội tự vệ “Sao Vuông” với hơn 30 đội viên, tự chế vũ khí trang bị cho mình chống lại kẻ thù đông gấp trăm lần với vũ khí được trang bị tới tận răng. Với vũ khí chỉ là mã tấu, dao kiếm là chính nhưng đội tự vệ ấy đã bao lần làm cho giặc "thất điên bát đảo".

Không biết bao nhiêu người đã hy sinh để mảnh đất Quán Trang vẫn đứng vững kiên cường. Bố tôi - Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Nông hội đầu tiên của thôn Quán Trang bị giặc bắn chết năm 1947. Một năm sau đó, ông nội tôi - Nguyễn Đức Đổng hy sinh trong một trận càn của giặc. Rồi chú rể tôi - Đoàn Văn Cử bị địch bắt và sau đó bị chúng thủ tiêu vào năm 1949. Rồi chú thứ hai Đoàn Văn Cừ hy sinh năm 1954. Còn thím tôi là Lê Thị Thục Đào từng 2 lần bị địch bắt giam và tra tấn dã man. Mẹ tôi là người hết sức can trường. Chồng, rồi bố chồng hy sinh. Một mình mẹ tôi tần tảo nuôi dạy chúng tôi, cất giấu, chăm nuôi cán bộ, rồi lần lượt đưa cả hai anh chị em chúng tôi đi phục vụ cách mạng.

Gia đình tôi chỉ là một trong rất nhiều gia đình như thế ở thôn Quán Trang ngày ấy.

Vụ thảm sát kinh hoàng

Giặc điên cuồng, lồng lộn trả thù. Và rồi trong cuộc chiến không cân sức ấy, kẻ thù không ít lần đã tràn được vào làng, sau khi đẩy lùi được sự kháng cự quyết liệt của người dân thôn Quán Trang.

Một cuộc trả thù dã man, thảm khốc đã xảy ra… Đó là ngày 29-4-1949. Đây là vụ thảm sát lớn nhất chưa từng có (về mức độ dã man không kém gì vụ “Mỹ Lai” sau này). Người Bát Trang "ghi xương khắc cốt" không bao giờ quên mối thù mà quân xâm lược gây nên.

Tôi còn quá nhỏ để nhận ra chuyện gì đang xảy ra. Lớn lên một chút, tôi được mẹ tôi và các chú tôi, Nguyễn Văn Mão, Nguyễn Văn Lược, những cán bộ, chỉ huy tham gia các cuộc chống càn của giặc năm ấy kể lại: Lúc ấy, vào khoảng 10 giờ sáng, giặc huy động quân từ bốt Ruồn, đò Cựu, Liễu Dinh, Thượng Trang với số quân lên đến hơn một tiểu đoàn tràn vào thôn Quán Trang. Chúng đi tới đâu đốt phá tới đấy, lửa khói mù mịt, súng nổ đùng đoàng. Chúng thực hiện “ba sạch”: Cướp sạch, đốt sạch, phá sạch. Sau trận càn, 70 lính Pháp từ hai đồn phối hợp với nhau lùa cả làng ra đình để hành quyết man rợ như thời Trung cổ.

Chúng bắt gần 400 người, chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em ra đình, lột hết quần áo bắt quỳ ở sân để hành quyết! Tiếng kêu khóc thảm thiết của những phụ nữ chân yếu tay mềm. Tiếng la khóc của trẻ nhỏ vì kinh sợ.

Trước mắt gần 400 con người đang kêu khóc thảm thiết như vậy, bốn tên lính Pháp lực lưỡng lôi xềnh xệch ông Nguyễn Văn Khung, em ruột của ông nội tôi là một du kích trong đội “Sao Vuông” vào sân đình. Chúng đè ông lên một chiếc bàn, bốn tên giữ chặt ông, một tên cầm lưỡi lê đâm vào cổ ông trước những tiếng la ré lên vì kinh sợ. Nhiều người đã ngất xỉu, gục xuống sân đình. Chúng lấy bát hương ra hứng máu. Sau khi chém giết gần chục người, chúng lùa hết số người còn lại trần truồng ra bờ sông, xua xuống sông để bơi sang Thanh Hà (một xã bên kia sông) rồi từ trên bờ chúng dùng súng liên thanh xả vào dòng người đang ngụp lặn trên sông. Vô số người đã chết ngay tại chỗ, máu đỏ cả một khúc sông, tiếng kêu la thảm thiết vang vọng cả một vùng trời.

Huyền thoại Nguyễn Văn Hồng

Mặc dù địch tiến hành những cuộc bắt bớ, thảm sát dã man hòng lung lạc ý chí chiến đấu bảo vệ quê hương, nhưng người dân Quán Trang vẫn không hề nao núng. Người này ngã xuống, người khác đứng lên. Quán Trang lập làng chiến đấu: Đào giao thông hào quanh làng, từng nhà đào hầm trú ẩn, hầm bí mật cất giấu cán bộ để bám trụ mỗi khi lực lượng tự vệ buộc phải rút khỏi làng. Tôi còn nhớ, trong vườn nhà tôi có tới 5 căn hầm bí mật nuôi cán bộ, du kích.

Một lực lượng vũ trang lớn đã được hình thành, bao gồm các lực lượng quan trọng như: Đội quân báo (có 12 đội viên), mỗi thôn đều có đội du kích với số quân lên đến 120 người. Ngoài ra thôn Quán Trang còn có Đội quyết tử, sau sáp nhập với đội quyết tử của xã Bát Trang, số quân tình nguyện gồm 35 cảm tử quân. Vũ khí của các đội du kích, Đội quyết tử là súng ống, lựu đạn cướp được của giặc, súng, mìn tự chế; cuốc thuổng, gậy gộc, giáo mác tự chế… Với vũ khí như vậy, các lực lượng vũ trang Quán Trang đã chống trả quyết liệt những trận càn của địch với số quân đông gấp cả chục lần được trang bị vũ khí tối tân để bảo vệ quê hương làng xóm.

Đã có biết bao tấm gương hy sinh dũng cảm, những câu chuyện như là huyền thoại. Nguyễn Văn Hồng được mọi người nhắc tới như một anh hùng của làng gắn với chiếc be cau đánh giặc mà hiện nay được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. “Ông Hồng mồ côi từ nhỏ, người thấp bé lắm, chỉ cao đến nách thằng Tây, nhà nghèo quanh năm đi ở chăn trâu kiếm sống. Tôi nhớ Hồng lúc nào cũng chỉ đánh mỗi cái quần đùi, người đen trũi…” - Chú tôi, Nguyễn Văn Mão từng có lần kể lại với con cháu chúng tôi như vậy.

Cái lần mà chú tôi chẳng thể nào quên đó là trận Nguyễn Văn Hồng đánh đồn Núi Voi. Đêm 25-5-1949 trăng sáng vằng vặc, ở làng quê trăng lại càng như sáng hơn. Lần ấy, du kích làng kết hợp với bộ đội trên tỉnh về để nhử địch ra đánh, mãi đến gần sáng chúng mới mò vào làng. “Sự cố” trận phục kích ấy là do mìn của du kích lúc giật lại không nổ mà giặc chỉ cách mấy bước, địch phát hiện xả súng làm mấy người chết, thấy tình hình nguy cấp Nguyễn Văn Hồng lao lên xông thằng vào ba tên giữ hỏa lực chặn làn đạn lại để cứu nguy cho đồng đội… Miệng hô “Xung phong!” Bọn giặc nghĩ thế quân ta đang mạnh mà hoảng sợ vì thế mà đồng đội rút lui an toàn còn ông thì ra đi mãi mãi với tấm thân chi chít vết đạn…”.

Quán Trang quê tôi hôm nay đã có nhiều thay đổi, cuộc sống của người dân đã đủ đầy, nhà cửa khang trang, đường làng đã lát gạch đẹp đẽ, nhưng những chứng tích tội ác thảm sát của kẻ thù thì vẫn còn đó như nhắc nhở các thế hệ trẻ Quán Trang: Để có được hạnh phúc của ngày hôm nay, các thế hệ cha ông họ phải trả giá đắt biết chừng nào!

NGUYỄN VĂN BỦNG