Ruộngbậc thang ở Hà Giang

Con đường từ thị xã Hà Giang lên Lũng Cú, điểm cực bắc của Tổ quốc dài ngót hai trăm cây số, nhiều đoạn nhìn xa như sợi lạt găm vào vách núi. Thỉnh thoảng chiếc xe lại bồng bềnh đi trong mây để che đi những vực sâu thăm thẳm… Lũng Cú nói riêng và cả huyện Đồng Văn nói chung vào mùa thu đẹp rất dịu dàng. Thế nhưng, vào mùa thu này ở đây lại sôi động một cuộc cách mạng mới, đó là cuộc cách mạng về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cuộc cách mạng mang lại no ấm hơn cho miền cực bắc của Tổ quốc…

Từ việc “cây cỏ lên ngôi”…

Nhìn trên tấm bản đồ của Tổ quốc, cao nguyên đá Hà Giang như một chiếc nón mà đỉnh chóp cao nhất là xã Lũng Cú. Đồng Văn, huyện cực Bắc của Tổ quốc có tổng diện tích tự nhiên 446,6km2, bằng khoảng một nửa diện tích của một tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, trong khi đó dân số tòan huyện chỉ có chưa đầy 6 vạn. Cả cao nguyên đá rộng lớn, thỉnh thoảng mới thấy một nếp nhà nằm chênh vênh bên sườn núi. Vùng đất này xưa kia vốn được coi là “thánh địa” của cây thuốc phiện.

Ông Sủng A Tràng, 75 tuổi, ở xã Sà Phìn, nhớ lại hồi trước đây : “Thuốc phiện trồng được, nên ai cũng biết hút: Đàn ông hút, đàn bà hút, trẻ em cũng hút. Có gia đình khi chủ nhà chết, con chó to cũng rớt rãi nằm gục bên chủ vì nhớ tới khói thuốc phiện... Hàng loạt các chuyện đau lòng từ cây thuốc phiện đã xảy ra. Để loại bỏ thứ cây chết người này, Đồng Văn đã xây dựng nhiều chương trình phát triển kinh tế vùng cao, đặc biệt là phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp. Lần lượt các cây cải dầu, ngô giống mới, khoai tây, đậu tương, xoài, táo ngoại, đỗ trọng… được đưa vào trồng thử nghiệm. Mặc dù háo hức, phấn khởi trước cái mới song do trình độ dân trí hạn chế, tập quán canh tác lạc hậu nên hầu hết các chương trình, dự án ở đây kết quả đạt được vẫn chưa xa điểm xuất phát là bao, bà con vẫn tiếp tục phải vật lộn với cái ăn, cái mặc…Loay hoay mãi, huyện mới nhìn lại điểm xuất phát của mình, mới nhận ra thế mạnh xưa nay của Đồng Văn vẫn là đàn bò bản địa với chất lượng thịt hơn hẳn bò nhập ngoại. Cùng với chương trình “một mái nhà, một bể nước, một con bò” của tỉnh, Đồng Văn mạnh dạn đầu tư phát triển đàn bò theo quy mô hàng hoá với mô hình “trồng cỏ-nuôi bò”.

Được chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội Hà Giang hỗ trợ, chương trình phát triển đàn bò của Đồng Văn đã được đẩy mạnh trong năm nay. Đến Đồng Văn hôm nay, đi đến đâu cũng được nghe chuyện nuôi bò, nào là giống cỏ mới, nào là địa chỉ giống bò tốt, nơi tiêm phòng cho bò…Hiện nay đàn trâu, bò trong toàn huyện đã có tới 27 nghìn con, bình quân mỗi gia đình có 1,3 con trâu, bò.

Đồng chí Sùng Đại Hùng, Chủ tịch UBND huyện Đồng Văn kiêm Trưởng ban đại diện Ngân hàng chính sách xã hội Đồng Văn cho biết: Hiện Ngân hàng chính sách xã hội đang giải ngân cho dân vay vốn nuôi bò. Con bò ở đây không lo nơi tiêu thụ vì chất lượng thịt rất tốt, hiện sản phẩm không đủ bán.

Từ vùng cao nguyên đá “chuyên canh” cây thuốc phiện, nay cả Đồng Văn xanh ngắt màu cỏ nuôi bò. Cây cỏ ở đây đã thực sự lên ngôi. Ông Vừa Đại Sinh ở xã Sà Phìn cho biết: Trồng cỏ để nuôi bò cho số tiền lớn gấp hàng chục lần so với trồng ngô.

Đến chuyện cao nguyên đang dần hết khát

Đối với bà con các dân tộc thiểu số, nhất là vùng cao núi đá như Đồng Văn, nỗi ám ảnh thiếu nước sinh hoạt luôn luôn đè nặng lên đời sống người dân. Hằng năm, vào mùa khô, họ phải đi hàng chục km đường đồi núi để gùi từng can nước ăn. Khó khăn về nước sinh hoạt của bà con nơi đây “truyền” từ đời này qua đời khác… Bắt đầu từ mùa thu này, hình ảnh người phụ nữ phải gùi nước ở Đồng Văn đã từng bước đi vào dĩ vãng khi Liên hiệp Khoa học và du lịch ( Tổng hội Địa chất Việt Nam) khoan tìm được mạch nước ngầm.

Đồng chí Sùng Đại Hùng, Chủ tịch UBND huyện Đồng Văn ( Hà Giang) đánh giá: 6 giếng khoan thăm dò nước ngầm cho 2 thị trấn Đồng Văn và Phó Bảng có đông dân nhất huyện là một thắng lợi lớn. Bà con các dân tộc thiểu số ở vùng cao núi đá vô cùng biết ơn Liên hiệp Khoa học và du lịch. Kết quả này thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng, Nhà nước đối với vùng đặc biệt khó khăn. Chương trình này đã góp phần làm tốt công tác phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị - xã hội. Từ thành công ban đầu này sẽ mở ra triển vọng khoan thăm dò khai thác giải quyết khó khăn về nước sinh hoạt cho các vùng núi cao, trong đó có Đồng Văn, Hà Giang.

Nhìn những vòi nước phun ra từ trong lòng đất, nhiều bà con đã xúc động nói với chúng tôi: Cám ơn Đảng, cám ơn Chính phủ đã đem nguồn nước sạch về đến thôn bản, không phải đi hàng chục cây số để gùi từng can nước. Mơ ước này hàng nghìn đời của bà con các dân tộc thiểu số ở vùng cao nơi đây đã thành hiện thực.

Từ thành công bước đầu trong việc tìm nguồn nước ngầm ở 4 xã, thị trấn của huyện Đồng Văn, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục tìm kiếm, bên cạnh đó, dự án xây dựng “hồ chứa nước trên núi” cũng đang gấp rút triển khai. Cao nguyên đá Đồng Văn đang dần hết khát.

Đột phá vào “ngành công nghiệp không khói”

So với nhiều huyện, thị xã khác của Hà Giang, Đồng Văn có tiềm năng lớn về du lịch. Ngay hình ảnh của một vùng đất cực bắc, “chóp nón của Tổ quốc” đã hấp dẫn du khách rồi. Đồng Văn còn có Khu rừng nguyên sinh Vần Chải với những cây cổ thụ mọc chen giữa các tảng đá lớn, con đường đi xuyên qua rừng được xếp bằng những khối đá lớn theo kiểu bậc thang dẫn lên đỉnh núi. Gần khu rừng là hang Nguyệt tuyệt đẹp. Đồng Văn còn hang Sảng Tùng, hang Mây với những nhũ đá muôn sắc muôn màu tựa như­ những tác phẩm toàn bích của thiên nhiên ban tặng… Về di tích lịch sử, Đồng Văn có khu di tích Nhà Vư­ơng thuộc xã Sà Phìn, chợ tình Khâu Vai. Đặc biệt có cột cờ trên đỉnh núi Rồng (Lũng Cú), nơi điểm cực Bắc của Tổ quốc…

Tiềm năng du lịch của Đồng Văn đang được thức dậy trong năm nay với hàng loạt các quyết sách đột phá của Huyện uỷ, UBND huyện. Trước mắt là các chính sách phát triển sản xuất hàng hoá phục vụ cho khách du lịch. Đồng Văn vốn nổi tiếng về trái ngon: đào, mận, lê, táo, hồng...; về cây dược liệu quý: tam thất, thục địa, hồi, quế... Các thứ cây này nay được khuyến khích trồng. Các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, cơ khí, nhạc cụ cũng đang được thổi thêm nguồn sinh khí mới.

Chúng tôi ngạc nhiên khi gặp ông Mua Sính Pó, dân tộc Mông, ở xóm Tả Cù Ván, xã Hố Quáng Phìn, một người được nhân dân trong vùng gọi là nghệ nhân chế tác những chiếc khèn. Chỉ bằng con dao mà ông đã gọt thân gỗ kim giao bóng nước, cắt những thân trúc già vàng óng , để rồi "chắp gió thành lời yêu, lời nhớ", gửi gắm cả lòng mình vào những chiếc khèn. Hiện tại, mỗi năm, gia đình ông có tổng thu từ cây khèn hơn 35 triệu đồng, trừ chi phí đi, còn gần 15 triệu đồng. Hiện tại trong xóm Tả Cù Ván đã có 23 gia đình đang làm khèn, đã có nhiều tư thương đến xóm đặt khèn để bán trong huyện và đưa ra các huyện bạn.

Đột phá vào “ngành công nghiệp không khói”, kinh tế Đồng Văn sẽ khởi sắc, đó là lời khẳng định của Chủ tịch UBND huyện Sùng Đại Hùng với chúng tôi.

Trước khi rời Đồng Văn, chúng tôi tới thăm đỉnh Lũng Cú, điểm cực Bắc, nơi chóp nhọn nhất trên bản đồ Việt Nam. Tại đây, trên đỉnh núi Rồng sừng sững một cột cờ lớn ốp đá trắng, lá cờ đại bay khỏe khoắn trong gió ngàn biên giới. Đứng ở chân Cột Cờ, điểm tương ứng với cột mốc 17 đoạn 3 tỉnh Hà Giang, tiếp giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, có thể nhìn bao quát một khoảng đất rộng với những tuyến đường tuần tra áp biên trong lô nhô núi đá. Ngay dưới chân cột cờ và rải rác cạnh tuyến đường biên là các nhà dân đang sinh sống, những nếp nhà nhỏ bé nhưng trụ bám kiên cường giữa mênh mông đất trời biên giới.

Trong cái nắng, cái gió của vùng cực bắc Tổ quốc, bất giác chúng tôi cùng ngước nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng. Lá cờ đại trên cột cờ Lũng Cú không phải chỉ là của riêng nhân dân Lũng Cú, nhân dân Đồng Văn mà phải là của chung cả nước. Rất nhiều người dân nước Việt muốn đến với vùng đất thiêng này, nhưng đường sá vẫn xa xôi quá. Mong sao khoảng cách này được rút lại bằng cả cơ sở hạ tầng lẫn tình cảm để vùng đất cực Bắc Tổ quốc thực sự cất cánh.

Bài và ảnh : Đỗ Phú Thọ